Điều 27. Nước tiểu có máu nhìn thấy bằng mắt, dù không đau, dù hôm sau đã hết, cũng phải đi khám một lần
Chi phí: Xét nghiệm nước tiểu vài chục tệ, siêu âm hệ tiết niệu một hai trăm tệ. Bác sĩ thấy cần thì nội soi bàng quang thêm, khoảng một nghìn tệ.
Nói dễ hiểu: Theo hồ sơ khám ngoại trú ở Anh, người trên 60 tuổi đi tiểu ra máu nhìn thấy được thì cuối cùng khoảng 2,8% phát hiện ung thư bàng quang; người 40 đến 59 tuổi khoảng 1,2%. Con số không cao, nhưng đủ cao để bắt buộc phải đi khám một lần. Dù chỉ xảy ra một lần, lượng ít, không đau, vẫn phải đi khám.
Lợi ích: Anh làm một nghiên cứu trên hồ sơ điện tử của phòng khám đa khoa cộng đồng (y tế ban đầu), 4.915 ca ung thư bàng quang so với 21.718 người đối chứng. Trong số người tiểu ra máu nhìn thấy được, tỉ lệ cuối cùng phát hiện ung thư bàng quang như sau: trên 60 tuổi là 2,8% (khoảng tin cậy 95% từ 2,5 đến 3,1); 40 đến 59 tuổi là 1,2% (từ 0,6 đến 2,3). Tên chuyên môn của tỉ lệ này là giá trị dự báo dương tính. Máu trong nước tiểu chỉ thấy dưới kính hiển vi cũng có ý nghĩa: tỉ số chênh 20 (khoảng tin cậy 95% từ 12 đến 33); ở người trên 60 tuổi tỉ lệ này là 1,6% (từ 1,2 đến 2,1). Hệ thống Y tế Quốc gia Anh (NHS) nói máu trong nước tiểu có thể là dấu hiệu ung thư, phải đi khám; dù không có triệu chứng nào khác, mới xảy ra lần đầu, lượng ít, cũng phải hẹn bác sĩ sớm.
Mức chứng cứ: B
Nguồn: Price SJ, Shephard EA, Stapley SA, Barraclough K, Hamilton WT (2014). Non-visible versus visible haematuria and bladder cancer risk: a study of electronic records in primary care. British Journal of General Practice, 64(626), e584-e589; NHS. Blood in urine; NHS. Symptoms of bladder cancer.
Ghi chú: "Không đau" không phải lý do để bỏ qua. NHS ghi rõ: nước tiểu có máu thì hẹn bác sĩ sớm, dù không có triệu chứng khác, lần đầu, lượng ít, không chắc có phải máu không. Tiểu buốt, tiểu nhiều lần, sốt có thể là nhiễm trùng đường tiểu. Đau quặn từng cơn từ hông lan xuống bẹn, đứng ngồi không yên có thể là sỏi. Nhưng NHS cũng dặn đừng tự kết luận, phải để bác sĩ xem. Màu đỏ lúc hành kinh, vừa ăn củ dền, vừa đổi thuốc mới thì nước tiểu đỏ chưa chắc là máu. Người đang uống thuốc chống đông cũng đừng tự cho là do thuốc; đây là lời khuyên của tác giả, nghiên cứu trên không tính riêng nhóm này. Lợi ích ghi "nhỏ" vì chỉ có tỉ lệ phát hiện, không có số đo "khám sớm giảm được bao nhiêu tử vong".
Điều 28. Rối loạn cương thì khám tim mạch trước, đừng coi đó chỉ là "chuyện ấy"
Chi phí: Tiền khám vài chục tệ. Đo huyết áp, lấy máu thử đường huyết và mỡ máu một hai trăm tệ. Đi viện một chuyến, đợi vài ngày có kết quả.
Nói dễ hiểu: Đàn ông bị rối loạn cương về sau mắc bệnh tim mạch nhiều hơn người khác khoảng bốn phần mười, nhồi máu cơ tim nhiều hơn khoảng sáu phần mười. Càng trẻ thì chênh càng nhiều. Vì vậy hãy đi kiểm tra huyết áp, đường huyết, mỡ máu trước, đừng tự mua thuốc về dập cho xong.
Lợi ích: Một phân tích gộp 14 nghiên cứu theo dõi, tổng cộng 92.757 nam giới, theo dõi trung bình 6,1 năm. So với người không bị rối loạn cương, người có vấn đề này về sau có nguy cơ: biến cố tim mạch nói chung cao hơn khoảng 44% (RR 1,44, khoảng tin cậy 95% từ 1,27 đến 1,63); nhồi máu cơ tim cao hơn khoảng 62% (RR 1,62, từ 1,34 đến 1,96); biến cố mạch máu não cao hơn khoảng 39% (RR 1,39, từ 1,23 đến 1,57); tử vong do mọi nguyên nhân cao hơn khoảng 25% (RR 1,25, từ 1,12 đến 1,39). Riêng tử vong tim mạch thì chưa thấy chênh rõ (RR 1,19, từ 0,97 đến 1,46). Tuổi càng trẻ, bội số càng cao. Nhóm vốn có nguy cơ tim mạch ở mức trung bình có bội số cao hơn cả nhóm nguy cơ cao và nhóm nguy cơ thấp. Các nghiên cứu xác định bằng bảng hỏi cho bội số 1,61 (từ 1,38 đến 1,86); nghiên cứu chỉ hỏi một câu cho 1,27 (từ 1,18 đến 1,37).
Mức chứng cứ: A
Nguồn: Vlachopoulos CV, Terentes-Printzios DG, Ioakeimidis NK, Aznaouridis KA, Stefanadis CI (2013). Prediction of cardiovascular events and all-cause mortality with erectile dysfunction: a systematic review and meta-analysis of cohort studies. Circulation: Cardiovascular Quality and Outcomes, 6(1), 99-109; DailyMed (kho tờ hướng dẫn thuốc của Thư viện Y khoa Quốc gia Mỹ). VIAGRA (sildenafil citrate) tablet, CONTRAINDICATIONS; NHS. Erectile dysfunction (impotence).
Ghi chú: Cả 14 nghiên cứu đều là theo dõi một nhóm người để xem kết cục, không phải thử nghiệm ngẫu nhiên. Nên "nhiều hơn bốn phần mười" là mối liên quan, không thể coi là nhân quả. NHS nói phần lớn đàn ông thỉnh thoảng không cương được, thường do mệt, căng thẳng, uống nhiều, không cần lo. Lặp đi lặp lại mới nên đi khám. Những thứ cần kiểm tra giống điều 7 và 8 mục này: đo huyết áp, thử đường huyết lúc đói, thêm mỡ máu, chuyện hút thuốc và vòng eo. Đừng mua thực phẩm chức năng "tráng dương" trên mạng. Thuốc chính thống loại này là thuốc kê đơn; tờ hướng dẫn ghi nhóm nitrat là chống chỉ định, người đang dùng các thuốc như nitroglycerin không được uống, dùng chung sẽ làm huyết áp tụt đột ngột. Cách cải thiện xem điều 29 mục này. Lợi ích ghi "vừa" chứ không "lớn": 44% là khoảng chênh nguy cơ giữa hai nhóm người, không phải "đi khám một lần giảm được bao nhiêu tử vong". Cũng không ghi "nhỏ": loại dấu hiệu như điều 27 chỉ có tỉ lệ phát hiện, còn ở đây tăng huyết áp, tiểu đường, rối loạn mỡ máu phát hiện ra đều có sẵn cách chữa.
Điều 29. Giảm cân, bỏ thuốc lá, giữ huyết áp và đường huyết trong tầm kiểm soát thì khả năng cương cũng khá lên
Chi phí: Không tốn tiền, có khi còn đỡ tiền. Cái khó là kiên trì lâu dài: kiềm chế ăn uống, chịu vận động, bỏ thuốc lá.
Nói dễ hiểu: Kiểm soát các yếu tố nguy cơ tim mạch thì chính khả năng cương sẽ khá lên. Chấm bằng một bảng hỏi thì trung bình được thêm 2 đến 3 điểm. Bảng hỏi này tối đa 25 điểm, từ 22 điểm trở lên là bình thường.
Lợi ích: Một phân tích gộp 6 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng, 740 nam giới. Can thiệp là thay đổi lối sống, hoặc dùng thuốc kiểm soát các yếu tố nguy cơ tim mạch, theo dõi ít nhất 6 tuần. Kết quả: điểm bảng hỏi chức năng cương (IIEF-5) tăng trung bình 2,66 điểm (khoảng tin cậy 95% từ 1,86 đến 3,47). Bỏ 2 thử nghiệm có dùng statin (143 người), 4 thử nghiệm còn lại chỉ thay đổi lối sống (597 người) vẫn tăng 2,40 điểm (từ 1,19 đến 3,61). IIEF-5 là bảng hỏi 5 câu, tổng điểm 5 đến 25; bài gốc chia làm năm mức, 22 đến 25 điểm là không rối loạn, 5 đến 7 điểm là nặng.
Mức chứng cứ: A
Nguồn: Gupta BP, Murad MH, Clifton MM, Prokop L, Nehra A, Kopecky SL (2011). The effect of lifestyle modification and cardiovascular risk factor reduction on erectile dysfunction: a systematic review and meta-analysis. Archives of Internal Medicine, 171(20), 1797-1803; Rosen RC, Cappelleri JC, Smith MD, Lipsky J, Peña BM (1999). Development and evaluation of an abridged, 5-item version of the International Index of Erectile Function (IIEF-5) as a diagnostic tool for erectile dysfunction. International Journal of Impotence Research, 11(6), 319-326; Tổng cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Trung Quốc (2016). Cảnh giác một số sản phẩm trộn trái phép sildenafil.
Ghi chú: Can thiệp trong 6 thử nghiệm này không giống nhau, có cái là giảm cân cộng vận động, có cái là dùng thuốc kiểm soát huyết áp, mỡ máu, tổng cộng chỉ 740 người. Nên chiều hướng thì rõ, còn khá lên bao nhiêu thì tùy người. Lợi ích ghi "nhỏ" vì kết cục chỉ là điểm bảng hỏi, không có số "về sau bớt được bao nhiêu bệnh". Cũng những việc ấy ở chỗ khác thì có kết cục cứng: bỏ thuốc lá xem mục 2 điều 1; giảm cân xem mục 2 điều 32 (giữ BMI trong khoảng 20–25); huyết áp xem điều 7 mục này. Bản thân việc dùng thuốc không phải điều cấm, miễn là thuốc kê đơn do bác sĩ kê. Năm 2016, cơ quan quản lý dược Trung Quốc cảnh báo: nhà nước chưa từng cấp phép thực phẩm chức năng nào có công dụng "cải thiện chức năng tình dục nam"; có kẻ trộn sildenafil, hoạt chất của loại thuốc này, vào các sản phẩm bất hợp pháp quảng cáo tráng dương, uống mà không có bác sĩ hướng dẫn thì nguy hiểm đến sức khỏe và tính mạng. Cách phân biệt thực phẩm chức năng mua trên mạng xem mục 28 điều 4.
Điều 30. Quan hệ tình dục thì dùng bao cao su từ đầu đến cuối, không dùng chung kim tiêm với người khác
Chi phí: Một chiếc một hai tệ. Cái khó không nằm ở tiền, mà ở chỗ lần nào cũng dùng, và đeo ngay từ đầu.
Nói dễ hiểu: Lần nào cũng đeo trọn cuộc thì khả năng lây HIV giữa nam và nữ giảm khoảng bảy phần mười trở lên. "Phần lớn thời gian có đeo" thì hiệu quả chẳng khác không đeo là mấy. Bao cao su cũng bảo vệ khỏi các bệnh lây qua đường tình dục khác, nhưng không chặn được giang mai, mụn rộp mọc ở chỗ bao không che tới.
Lợi ích: Một nghiên cứu gộp 25 nghiên cứu với 10.676 cặp nam nữ, mỗi cặp một người nhiễm HIV và một người không nhiễm (tên chuyên môn là cặp bất tương hợp huyết thanh). So với người không bao giờ dùng, người lần nào cũng dùng bao cao su có nguy cơ lây HIV thấp hơn khoảng 71% (RR 0,29, khoảng tin cậy 95% từ 0,20 đến 0,43). So với người dùng lúc có lúc không thì thấp hơn khoảng 77% (RR 0,23, khoảng tin cậy 95% từ 0,13 đến 0,40). Tác giả kết luận bao cao su không hoàn hảo, nhưng dùng đều đặn giảm được hơn 70% lây truyền HIV. WHO nói dùng bao cao su đúng và đều đặn là một trong những cách hiệu quả nhất để phòng bệnh lây qua đường tình dục, kể cả HIV; nhưng các vết loét mọc ở chỗ bao không che, như giang mai, mụn rộp sinh dục, thì bao cao su không chặn được.
Mức chứng cứ: A
Nguồn: Giannou FK, Tsiara CG, Nikolopoulos GK và cộng sự (2016). Condom effectiveness in reducing heterosexual HIV transmission: a systematic review and meta-analysis of studies on HIV serodiscordant couples. Expert Review of Pharmacoeconomics & Outcomes Research, 16(4), 489-499; Fonner VA và cộng sự (2016). Effectiveness and safety of oral HIV preexposure prophylaxis for all populations. AIDS. (dự phòng trước phơi nhiễm PrEP); WHO (2025). Sexually transmitted infections (STIs) fact sheet.
Ghi chú: "Dùng không đều" với "không dùng" chênh nhau rất ít; phải lần nào cũng dùng, dùng trọn cuộc mới có tác dụng. Dùng chung kim tiêm là một đường lây riêng rất mạnh, không liên quan đến quan hệ tình dục: tiêm chích ma túy, xăm, xỏ khuyên đều tính. Người nguy cơ cao còn có thể dùng dự phòng trước phơi nhiễm (PrEP), tức uống thuốc trước để chặn lây nhiễm. Gộp 18 nghiên cứu: trong các thử nghiệm có hơn bảy phần mười người uống thuốc đúng giờ, người dùng PrEP có nguy cơ nhiễm HIV thấp hơn người dùng giả dược khoảng bảy phần mười (tỉ số nguy cơ 0,30, khoảng tin cậy 95% từ 0,21 đến 0,45). Những thử nghiệm ít người uống đúng giờ thì không thấy tác dụng bảo vệ. PrEP là thuốc kê đơn, hãy hỏi khoa truyền nhiễm hoặc trung tâm kiểm soát bệnh tật, đừng tự mua trên mạng. Đã phơi nhiễm rồi thì làm gì, xem mục 13.
Điều 31. Từng có hành vi nguy cơ cao thì đi xét nghiệm HIV một lần; ở Trung Quốc, trung tâm kiểm soát bệnh tật làm miễn phí và giữ bí mật
Chi phí: Không tốn tiền. Đến trung tâm kiểm soát bệnh tật hoặc cơ sở y tế được chỉ định, lấy một ống máu. Cái khó là bước mở lời đi xét nghiệm.
Nói dễ hiểu: Ở Trung Quốc, xét nghiệm HIV tại trung tâm kiểm soát bệnh tật không mất tiền. Không có sự đồng ý của chính mình thì không đơn vị hay cá nhân nào được công khai họ tên, địa chỉ, nơi làm việc và bệnh sử. Có phát hiện ra cũng không phải án tử: người uống thuốc đều đặn đến mức không đo được virus thì không lây cho bạn tình nữa. Trong nghiên cứu, những cặp như thế không có lấy một ca lây.

Lợi ích: Điều 23 Điều lệ phòng chống AIDS của Trung Quốc ghi: cơ quan y tế cấp huyện trở lên chỉ định một số cơ sở y tế, các cơ sở này phải tư vấn và xét nghiệm sàng lọc ban đầu miễn phí cho người tự nguyện. Xét nghiệm sớm không phải để an tâm cho có: thuốc kháng virus ngày nay ép được virus xuống mức không phát hiện được. Theo WHO, người nhiễm đang điều trị kháng virus mà tải lượng virus không phát hiện được thì không lây HIV cho bạn tình. Nghiên cứu PARTNER theo dõi 782 cặp đồng giới, mỗi cặp một người nhiễm, một người không nhiễm, cộng lại 1.593 cặp-năm (tổng số năm theo dõi của mọi cặp). Trong thời gian đó có tổng cộng 76.088 lần quan hệ không bao, xuất hiện 15 ca nhiễm mới. Sau khi so gen virus bằng phân tích phát sinh loài, cả 15 ca đều không phải lây từ bạn tình, lây giữa bạn tình bằng không. Điều 39 Điều lệ quy định: không có sự đồng ý của chính người đó hoặc người giám hộ, không đơn vị hay cá nhân nào được công khai họ tên, địa chỉ, nơi làm việc, hình ảnh, bệnh sử và mọi thông tin có thể suy ra danh tính của người nhiễm HIV, bệnh nhân AIDS và gia đình họ.
Mức chứng cứ: A
Nguồn: Quốc vụ viện Trung Quốc (2006). Điều lệ phòng chống AIDS (các điều 3, 23, 38, 39), bản đăng lại của Ủy ban Y tế Bắc Kinh; Rodger AJ, Cambiano V, Bruun T và cộng sự (2019). Risk of HIV transmission through condomless sex in serodifferent gay couples with the HIV-positive partner taking suppressive antiretroviral therapy (PARTNER): final results of a multicentre, prospective, observational study. The Lancet, 393(10189), 2428-2438; CDC tỉnh Quảng Đông. Kiến thức về giai đoạn cửa sổ của xét nghiệm HIV (trang gốc đã gỡ, đây là bản lưu ngày 15/9/2026).
Ghi chú: Giai đoạn cửa sổ quyết định xét nghiệm lúc nào mới có giá trị. Theo CDC Quảng Đông: xét nghiệm axit nucleic phát hiện được sau khoảng 1 tuần, xét nghiệm kết hợp kháng nguyên kháng thể thế hệ bốn sau khoảng 2 tuần, xét nghiệm kháng thể thế hệ ba sau khoảng 3 tuần. Nên đợi ít nhất 2 tuần rồi mới xét nghiệm, cách 2 đến 4 tuần làm lại một lần. Sau lần có hành vi nguy cơ cuối cùng đủ 3 tháng thì loại trừ được nhiễm với độ chắc trên 99,99%. Que tự thử báo dương tính chưa phải là chẩn đoán xác định, bắt buộc phải đến trung tâm kiểm soát bệnh tật hoặc cơ sở chính quy để xét nghiệm lại. Điều 3 của điều lệ ghi không đơn vị hay cá nhân nào được kỳ thị người nhiễm và gia đình họ; quyền hôn nhân, việc làm, khám chữa bệnh, đi học được pháp luật bảo vệ. Điều 38 đồng thời quy định người nhiễm có nghĩa vụ kịp thời báo cho người có quan hệ tình dục với mình biết việc mình nhiễm hoặc phát bệnh. Sàng lọc ba bệnh khi mang thai và chặn lây từ mẹ sang con xem mục 27.
[Lời người dịch] Ở Việt Nam, xét nghiệm HIV tự nguyện được làm tại các phòng tư vấn xét nghiệm tự nguyện và trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh, thành; Luật Phòng, chống HIV/AIDS cũng cấm kỳ thị và cấm tiết lộ tình trạng nhiễm HIV khi chưa được người đó đồng ý.
Điều 32. Ý nghĩ tự tử vừa lóe lên thì nói ngay với một người bên cạnh, giao mấy chục phút ấy cho người khác giữ
Chi phí: Không tốn tiền. Cái khó là mở lời đúng lúc ấy, và thừa nhận rằng mấy tiếng này mình không nên ở một mình.
Nói dễ hiểu: Trong một nghiên cứu phỏng vấn, gần một nửa người từng tự tử bất thành nói từ lúc ý nghĩ nảy ra đến lúc hành động không quá 10 phút. Ba phần tư từng tiếp xúc với người bên cạnh trong khoảng thời gian đó. Người từng vào viện vì tự làm hại mình, sau 1 năm khoảng 2% chết vì tự tử, sau từ 9 năm trở lên khoảng 7%; tuyệt đại đa số về sau không chết vì tự tử.
Lợi ích: 82 người tự tử bất thành được phỏng vấn trong vòng 3 ngày sau khi nhập viện: 47,6% (39 người) nói từ lúc lần này ý nghĩ tự tử nảy ra đầu tiên đến lúc thật sự hành động không quá 10 phút. Những người có quá trình kéo dài hơn thì điểm ý định tự tử cao hơn rõ rệt; điểm thang đo tính bốc đồng không liên quan đến độ dài quá trình. 76,8% (63 người) nói trong khoảng thời gian ấy họ có tiếp xúc nào đó với bạn đời, người nhà hoặc bạn bè. Tác giả kết luận: khoảng thời gian có thể can thiệp thường rất ngắn, nhân viên chuyên môn khó chen vào ở giai đoạn này, nên cần phổ biến cách nhận ra dấu hiệu và cách can thiệp cho người bình thường. Một tổng quan hệ thống khác gộp 90 nghiên cứu theo dõi: người đi khám vì tự làm hại mình, sau 1 năm tỉ lệ lại tự làm hại mà không chết có trung vị 16%; sau 1 năm chết vì tự tử là 2%; theo dõi từ 9 năm trở lên thì khoảng 7% chết vì tự tử.
Mức chứng cứ: B
Nguồn: Deisenhammer EA, Ing CM, Strauss R, Kemmler G, Hinterhuber H, Weiss EM (2009). The duration of the suicidal process: how much time is left for intervention between consideration and accomplishment of a suicide attempt? Journal of Clinical Psychiatry, 70(1), 19-24; Owens D, Horrocks J, House A (2002). Fatal and non-fatal repetition of self-harm: systematic review. British Journal of Psychiatry, 181, 193-199.
Ghi chú: Lý do cho B: nghiên cứu của Deisenhammer chỉ có 82 người, ở một bệnh viện, dựa vào hồi tưởng của chính người trong cuộc. Bài của Owens đưa tỉ lệ trung vị của 90 nghiên cứu làm theo nhiều cách khác nhau, không gộp thành một con số. Cũng bài đó ghi rõ nguy cơ tự tử của người tự làm hại mình vẫn cao gấp vài trăm lần người bình thường. Nên "tuyệt đại đa số về sau không chết vì tự tử" là nói về cả nhóm, không thể coi là lời bảo đảm cho một người cụ thể; cần khám bệnh thì vẫn phải khám. Dời phương tiện gây chết ra xa và đường dây hỗ trợ xem điều 25 mục này. Mấy việc nên làm trước khi tâm trạng sa sút xem mục 3 điều 18. Di chứng sau khi được cứu sống xem điều 33 mục này. Nghi người bên cạnh có ý nghĩ ấy thì có thể hỏi thẳng, xem điều 43 mục này. Người bên cạnh để lộ ý nghĩ ấy thì mình làm được gì, xem mục 8 điều 15.
Điều 33. Đừng coi "sẽ được cứu" là lưới đỡ: sau khi uống thuốc trừ sâu, ngộ độc khí than, cấp cứu giữ được mạng, nhưng có thể không giữ được phổi và não
Chi phí: Không tốn tiền. Chỉ là biết trước chuyện này.
Nói dễ hiểu: Paraquat (thuốc diệt cỏ cháy) không có thuốc giải nào hiệu quả; ở một nhóm bệnh nhân Bangladesh, hơn bốn phần mười không cứu được. Nó làm phổi viêm rồi xơ cứng dần, thận và gan cũng bị tổn thương theo. Người ngộ độc khí than được cứu, chỉ thở oxy thường thì sáu tuần sau gần một nửa đầu óc không còn như trước; người được điều trị oxy cao áp vẫn còn một phần tư.
Lợi ích: Một tổng quan hệ thống về ngộ độc paraquat: tỉ lệ tử vong cực cao, vì bản thân chất này rất độc mà lại thiếu cách chữa hiệu quả. Nó bị phổi chủ động hút vào ngược chiều nồng độ (tên chuyên môn là hấp thu chủ động ngược gradient nồng độ), gây viêm phổi và xơ phổi, đồng thời gây tổn thương thận và gan. Tổng quan ghi rõ: không nên rửa dạ dày; chạy thận và lọc máu hấp phụ khó thay đổi được diễn biến bệnh; chứng cứ về hiệu quả của corticoid và thuốc ức chế miễn dịch rất yếu. Tổng quan còn viết: tỉ lệ tử vong ở mọi trung tâm đều rất cao, dù cách điều trị khác nhau nhiều. 10 bệnh viện tuyến ba ở Bangladesh từ 2013 đến 2024 nhận 1.420 ca, trong đó 257 ca phân tích được: tỉ lệ tử vong 43,2%. Biểu hiện thường gặp là phù chân do suy thận cấp 71,2%, nôn 65,8%, đau bụng 58,0%. Thử nghiệm về ngộ độc CO cấp là thử nghiệm ngẫu nhiên mù đôi, mỗi nhóm 76 người, cả bác sĩ lẫn bệnh nhân đều không biết vào nhóm nào. Sau sáu tuần, người có di chứng nhận thức: nhóm oxy cao áp 19/76 (25,0%), nhóm oxy thường 35/76 (46,1%), P=0,007; hiệu chỉnh các yếu tố khác thì OR 0,45 (khoảng tin cậy 95% từ 0,22 đến 0,92). Một nghiên cứu khác quan sát liên tiếp 73 ca: 30% có di chứng nhận thức, 12% xuất hiện tăng tín hiệu chất trắng ở não. Trung Quốc từ 1/7/2014 hủy đăng ký và giấy phép sản xuất paraquat dạng nước, ngừng sản xuất; từ 1/7/2016 dạng nước ngừng bán và ngừng dùng trong nước; từ 26/9/2020 cấm bán, cấm dùng dạng gel hòa tan. Văn bản ghi rõ lý do trực tiếp của việc siết quản lý là tình trạng uống paraquat tự tử xảy ra liên tục.
Mức chứng cứ: B
Nguồn: Gawarammana IB, Buckley NA (2011). Medical management of paraquat ingestion. British Journal of Clinical Pharmacology, 72(5), 745-757; Chowdhury FR và cộng sự (2026). Clinical and Laboratory Profile of Paraquat Poisoning: A Toxicological Crisis in Bangladesh. American Journal of Tropical Medicine and Hygiene, 115, 176-182; Weaver LK, Hopkins RO, Chan KJ và cộng sự (2002). Hyperbaric oxygen for acute carbon monoxide poisoning. New England Journal of Medicine, 347(14), 1057-1067; Parkinson RB, Hopkins RO, Cleavinger HB và cộng sự (2002). White matter hyperintensities and neuropsychological outcome following carbon monoxide poisoning. Neurology, 58(10), 1525-1532; Văn phòng Bộ Nông nghiệp và Nông thôn Trung Quốc (2018). Thông báo về việc tăng cường giám sát quản lý paraquat.
Ghi chú: Lý do cho B: đối tượng các nghiên cứu này là bệnh nhân ngộ độc, không riêng nhóm tự tử bất thành; thử nghiệm về CO còn có cả người ngộ độc do tai nạn. Nên các tỉ lệ di chứng trên không thể coi thẳng là "xác suất hậu quả của người tự tử bất thành". Chỉ chắc một điều: không có cách nào bảo đảm không để lại di chứng. Xử lý tại chỗ khi ngộ độc CO xem mục 13 điều 19. Uống nhầm thuốc trừ sâu, thuốc men thì đừng gây nôn vội, mang theo chai lọ đến viện, xem mục 13 điều 20. Trong nhà không tích thuốc trừ sâu và thuốc ngủ, xem điều 25 mục này. Sách này không so sánh mức gây chết của các cách thức, cũng không viết bất kỳ cách làm cụ thể nào.
Điều 34. Đừng đánh cược vào "nằm vài hôm là khỏi" khi ngã từ trên cao: người vào ICU chấn thương phần lớn sống sót, nhưng cái giá tính bằng năm
Chi phí: Không tốn tiền. Chỉ là nhìn rõ món nợ này trước.
Nói dễ hiểu: Ở một bệnh viện Tân Cương, người ngã từ trên cao phải vào ICU chấn thương chỉ chết 5,5%, nhưng bị thương nặng và chữa rất lâu. Gần một nửa bị thương cùng lúc từ ba chỗ trở lên, hơn một phần ba phải thở máy, người nằm ICU lâu nhất là 132 ngày. Một nửa ngã từ độ cao không quá 3 mét. Người bị thương nặng, về sau đi làm lại được chưa tới sáu phần mười.
Lợi ích: Một ICU chấn thương (phòng hồi sức tích cực) ở nam Tân Cương thống kê từ 4/2020 đến 7/2024 nhận 289 ca ngã từ trên cao. Tuổi trung bình 40,3. Trung vị độ cao là 3 mét, 26,6% ngã từ trên 5 mét, 11,4% từ trên 10 mét. Trung vị điểm độ nặng chấn thương ISS là 24 (điểm càng cao thương càng nặng), 63,3% có ISS trên 20. 47,1% bị thương từ 3 vùng trở lên, 18,3% từ 4 vùng trở lên. 36% phải thở máy, trung vị thời gian thở máy 103,5 giờ. Trung vị nằm ICU 8 ngày, ngắn nhất 1 ngày, dài nhất 132 ngày. Tỉ lệ tử vong trong viện hoặc trong 30 ngày là 5,5% (16/289). Một trung tâm chấn thương ở Đức nhận 84 bệnh nhân đa chấn thương có ISS ≥ 25 (đa chấn thương là bị thương nhiều vùng cùng lúc): trong thời gian theo dõi, tỉ lệ quay lại làm việc là 58%; tuổi, thời gian điều trị ICU và sức khỏe tự đánh giá là các yếu tố dự báo. Năm 2024, chi phí trung bình mỗi lượt nằm viện ở Trung Quốc là 9.870,0 tệ, theo giá năm đó giảm 4,3% so với năm trước. Cùng năm, tổng chi phí y tế toàn quốc 9.089,55 tỉ tệ, trong đó chi của cá nhân 2.500,75 tỉ tệ, chiếm 27,5%.
Mức chứng cứ: B
Nguồn: Chen Y, Li W, Wang X, Zhong Q, Abudurexiti A, Qiu Q, Li J, Luo J (2025). Clinical features and prognostic predictors for patients admitted to trauma intensive care unit due to fall from height in South Xinjiang. International Journal of Emergency Medicine, 18, 142; Simmel S, Wurm S, Drisch S, Woltmann A, Coenen M (2020). Prädiktion der Rückkehr zur Arbeit nach Polytrauma bei Patienten mit einem ISS von mindestens 25. Die Rehabilitation, 59(2), 95-103; Ủy ban Y tế Quốc gia Trung Quốc (2025). Giải thích công báo thống kê phát triển sự nghiệp y tế năm 2024.
Ghi chú: Lý do cho B: nhóm ngã từ trên cao là thống kê lại hồ sơ cũ của một bệnh viện, không tách tai nạn với tự gây thương tích. Nhóm quay lại làm việc chỉ có 84 người, lại ở Đức. Cả hai không thể coi là "nhảy lầu rồi một người sẽ ra sao". Chi phí trung bình mỗi lượt nằm viện là số bình quân của mọi lượt nằm viện toàn quốc, không phải chi phí của chấn thương do ngã; dẫn ra chỉ để có một mức sàn kiểm chứng được. Bài gốc chỉ đưa phân bố độ cao của nhóm này, nên ở đây không viết mối liên hệ giữa độ cao và hậu quả. Loét tì đè, thứ cần canh nhất khi nằm lâu, xem mục 17 điều 8. Huyết khối tĩnh mạch sâu và thuyên tắc phổi xem mục 13 điều 11 (một bên chân đột nhiên sưng). Ý nghĩ lóe lên thì làm gì, xem điều 32 mục này. Hậu quả của ngộ độc xem điều 33 mục này. Dưới đây là trải nghiệm của chính tác giả: ngã từ tầng bốn, lúc đầu tưởng "mười mấy hôm là khỏi". Thực tế nằm viện một năm, bốn lần mổ, bắt nẹp thép, nửa năm không tự trở mình ngồi dậy được, gia đình phải đi vay tiền.
Điều 35. Đừng đem "thiếu một quả thận cũng chẳng sao" đổi lấy tiền: quả còn lại phải làm thay cả hai, 86% người từng bán thận nói sức khỏe sa sút
Chi phí: Không tốn tiền. Chỉ là nhìn rõ món nợ này trước.
Nói dễ hiểu: Ở Mỹ, người hiến thận chính quy đã qua sàng lọc kỹ lưỡng, 15 năm sau có 31 trên 10.000 người đi đến suy thận giai đoạn cuối; người khỏe tương đương mà không hiến là 4 trên 10.000. Ở Ấn Độ, một nhóm người bán thận sau 6 năm có 86% nói sức khỏe sa sút, ba phần tư vẫn còn nợ.
Lợi ích: Mỹ so 96.217 người hiến thận khi còn sống với 20.024 người khỏe tương đương không hiến, lấy từ Điều tra Sức khỏe và Dinh dưỡng Quốc gia Mỹ (NHANES III). Nguy cơ ước tính đi đến suy thận giai đoạn cuối sau 15 năm: người hiến là 30,8 trên 10.000 (khoảng tin cậy 95% từ 24,3 đến 38,5); người khỏe không hiến là 3,9 trên 10.000 (từ 0,8 đến 8,9), P<0,001. Suy thận giai đoạn cuối (ESRD) là khi phải sống nhờ chạy thận hoặc ghép thận. Nguy cơ ước tính cả đời đi đến ESRD: người hiến 90 trên 10.000, dân số chung chưa sàng lọc 326 trên 10.000, người khỏe không hiến 14 trên 10.000. Na Uy cũng so một lần: 1.901 người hiến thận, theo dõi trung vị 15,1 năm, với 32.621 người đủ điều kiện hiến, theo dõi trung vị 24,9 năm. Người hiến có tử vong chung cao hơn khoảng ba phần mười (HR 1,30, khoảng tin cậy 95% từ 1,11 đến 1,52), tử vong tim mạch cao hơn khoảng bốn phần mười (HR 1,40, từ 1,03 đến 1,91), đi đến ESRD cao gấp khoảng mười lần (HR 11,38, từ 4,37 đến 29,6). Tỉ lệ ESRD chung của nhóm người hiến này là 302 trên một triệu. Ở Mỹ còn có 3.698 người hiến thận, 11 người bị ESRD, tức 180 ca trên một triệu người-năm, cùng kỳ dân số chung là 268 ca. Trong nhóm này có 255 người quay lại kiểm tra, trung bình 12,2±9,2 năm sau khi hiến: 85,5% có độ lọc cầu thận GFR ≥ 60 ml/phút/1,73 m² (60 là ngưỡng dưới của bình thường), 32,1% bị tăng huyết áp, 12,7% có protein niệu (nước tiểu lọt protein). Ở Chennai, Ấn Độ, khảo sát 305 người bán thận, trung bình 6 năm sau khi bán: 96% bán để trả nợ, trung bình nhận được 1.070 đô la Mỹ. Sau khi cắt thận, thu nhập gia đình trung bình giảm một phần ba (P<0,001), số người sống dưới mức nghèo tăng lên, ba phần tư lúc khảo sát vẫn còn nợ. 86% nói sức khỏe kém hơn trước khi cắt thận, 79% khuyên người khác đừng bán thận.
Mức chứng cứ: A
Nguồn: Muzaale AD, Massie AB, Wang MC, Montgomery RA, McBride MA, Wainright JL, Segev DL (2014). Risk of end-stage renal disease following live kidney donation. JAMA, 311(6), 579-586; Mjøen G, Hallan S, Hartmann A và cộng sự (2014). Long-term risks for kidney donors. Kidney International, 86(1), 162-167; Ibrahim HN, Foley R, Tan L và cộng sự (2009). Long-term consequences of kidney donation. New England Journal of Medicine, 360(5), 459-469; Goyal M, Mehta RL, Schneiderman LJ, Sehgal AR (2002). Economic and health consequences of selling a kidney in India. JAMA, 288(13), 1589-1593.
Ghi chú: Có tranh cãi: nghiên cứu của Ibrahim lấy người bình thường để so, kết luận khả năng sống và nguy cơ đi đến suy thận giai đoạn cuối của người hiến tương đương người bình thường. Muzaale và Mjøen đổi đối tượng so sánh thành người "khỏe như nhau, đủ điều kiện hiến như nhau" thì nguy cơ cao lên rõ. Chỗ khác nhau nằm ở việc so với ai, không nằm ở người hiến. Cả ba nghiên cứu đều đồng ý nguy cơ tuyệt đối không lớn (15 năm 30,8 trên 10.000). Nên điểm chính không phải "hiến thận rất nguy hiểm", mà là hai chuyện khác. Quả thận còn lại quả thật đang trả giá, tỉ lệ tăng huyết áp và protein niệu nằm sờ sờ ra đó. Và mọi con số trên đều lấy từ những người được sàng lọc trước mổ, có người tái khám sau mổ, có chuyện thì quay lại viện được. Bán thận chợ đen thì ba thứ ấy không có thứ nào, và khảo sát ở Ấn Độ cho thấy một kết cục khác hẳn. Nghiên cứu gốc chỉ đưa đến sức khỏe tự đánh giá sa sút, protein niệu, tăng huyết áp và tỉ lệ suy thận giai đoạn cuối, không có số "bao nhiêu người nằm liệt", ở đây không tự thêm vào. Giới hạn người thân được hiến hợp pháp, tiền phạt và trách nhiệm hình sự xem mục 9 điều 22 (không bán nội tạng của mình). Đã phải chạy thận thì chuyện thanh toán trực tiếp liên tỉnh và thuốc dùng lâu dài xem mục 16 điều 1 và 2.
Dịch từ «高性价比人生指南» (HowToLiveBetter) của eternity4719, github.com/eternity4719/HowToLiveBetter, giấy phép CC BY 4.0 (creativecommons.org/licenses/by/4.0). Bổn các đã dịch sang tiếng Việt, chia lại chương và lược trích dẫn dài.