TỰA
Sử là để chép việc. Mà việc đó hay hoặc dở dùng để khuyên, răn cho đời sau. Thuở xưa, các nước đều có sử riêng. Tức như Xuân-Thu của nước Lỗ, Đào-Ngột của nước Tấn, Thặng của nước Sở, ấy là sử cả. Nước Đại-Việt ở phía Nam rẫy Ngũ-Lĩnh: Đó là Trời ngăn ra Nam, Bắc... Thủy-Tổ ta ra từ dòng-dõi vua Thần-Nông: Đó là Trời mở ra bậc chúa-tể thật đáng vì... Vì vậy nên có thể cùng với các triều bên Tầu đều xưng đế ở một phương... Phiền nỗi: Sử-sách thiếu hẳn ghi-chép, mà sự thực chỉ là nghe truyền... Văn: chen cả hoang-đường! Việc: hoặc khi quên, sót! Cho đến: viết-lách sai-lẫn; ghi-chép dài-dòng... Chỉ làm bận mắt! Còn có gì đáng trông soi nữa! Đến vua Thái-Tông nhà Trần mới truyền quan Học-sĩ Lê-văn-Hưu sửa lại: từ Vũ-đế nhà Triệu trở xuống tới năm đầu Chiêu-Hoàng nhà Lý. Vua Nhân-Tông triều ta (Hậu-Lê) lại truyền quan Tu-sử Phan-Phu-Tiên chép nối từ đời Trần Thái-Tông trở xuống tới hồi người Minh trở về nước. Đều gọi là Đại-Việt-Sử-Ký. Rồi đó sự tích các đời, mới rõ-ràng đáng để làm gương. Văn-Hưu là tay bút lớn đời Trần! Phu-Tiên là bậc lão-thành triều Thánh! Đều vâng chiếu chép về sử của nước mình. Rộng tìm các sử sót lại, góp-họp thành sách. Khiến cho kẻ xem đến đời sau, không còn gì đáng ân-hận, thì được... Nhưng biên-ghi còn có chỗ chưa đủ; nghĩa-lệ còn có chỗ chưa hợp; văn chương còn có chỗ chưa xuôi... Người đọc không thể không bực mình được! Riêng có bộ Việt-Sử-Cương-Mục của Hồ-Tông-Thốc làm ra thì chép việc thận-trọng mà có phép; bình việc thiết-đáng mà không thừa; có lẽ cũng đã khá... Thế nhưng sau cơn binh-lửa, sách ấy không còn truyền. Cho hay việc làm nên là rất khó-khăn: Chừng như còn phải có chờ-đợi...
Hoàng-Thượng ta trung-hưng, sùng nho, trọng đạo, sửa điển, xét văn... Khoảng niên-hiệu Quang-Thuận, mới hạ-chiếu tìm các dã-sử, cùng các truyện-ký xưa, nay, mà các nhà còn cất giấu được. Hết thẩy truyền cho tâu lên, để phòng khi tham-khảo đến. Lại sai các nho-thần bàn-bạc biên-sắp. Tôi hồi trước ở Sử-Viện từng được tham-dự. Tới khi lại vào thì sách ấy đã dâng lên, cất vào Đông-Các, không được trông thấy nữa. Trộm nghĩ, mình may gặp buổi văn-minh, thẹn không tài báo đáp... Nên chi chẳng nề ngu-dốt, đem sách của hai bậc Tiên-chính, sửa sang, mài gọt, thêm vào một cuốn « Ngoại-Kỷ », gồm ngần này cuốn, đặt tên là « Đại-Việt Sử-Ký toàn-thư ». Việc có thiếu sót thì bù thêm; lệ có chưa đáng thì chữa lại; văn có không xuôi thì đổi đi... Gián-hoặc có điều chi hay, dở, có thể dùng để khuyên-răn, thì lại phụ thêm ý quê xuống bên dưới. Rất biết mình hỗn xược, ngông-càn, không trốn sao khỏi tội... Nhưng chức-phận đáng làm không dám lấy biết hẹp, tài hèn làm cớ... Kính chép hẳn thành sách, để lại Sử-Quán. Tuy chưa định được phải, trái chung với muôn năm, nhưng cũng đủ giúp ít-nhiều cho người kê-cứu về sau.
Niên hiệu Hồng đức thứ mười, năm Kỷ Hợi, tiết Đông Chí.
Cho đậu Đồng-tiến-Sĩ khoa Nhâm-Tuất niên-hiệu Đại-Bảo, Hữu-Thị-Lang bộ Lễ, Triều-liệt, Đại-phu, kiêm Tư-Nghiệp trường Quốc-Tử-Giám kiêm Tu-soạn Sử-quán, Ngô-Sĩ-Liên tựa.