Gia Long tẩu quốc

Chương 27: Hồi thứ hai mươi bốn

Khoảng 12 phút đọc · 2.531 chữ · Bôi đen một đoạn để bình luận hoặc chia sẻ

HỒI THỨ HAI MƯƠI BỐN

Diển trận thế công-chúa thi oai,

Náo miểu đường Đại-vương rớt mão.

Đây nói về chuyện vợ cũa Nguyễn-hửu-Thoại là

công-chúa Ngọc-Duệ là con thứ ba của vua Hưng-Tổ và là em ruột của đức Nguyễn-Ánh, công-chúa

nầy tuy là hình mai vóc liểu, nhưng mà lực tráng

thân cường, mặt trắng môi hồng, cặp mắt sáng như

sao nháy, thật là một gái quốc sắc thiên hương,

dung nhan đẹp đẽ, mà có tánh tình khẳng khái, lại

thêm thông thuộc việc vỏ nghệ binh cơ.

Cong-chúa bình nhựt có tuyển lựa các vợ cũa

lính tráng, và chiêu mộ các gái trong thôn hương,

từ 20 tuổi sắp lên, mỗi đứa đều vóc dạng mạnh

mẽ, rồi lập một đội nử binh, hơn năm mươi người,

đề theo hầu việc sai khiến.

Khi Nguyển-hửu-Thoại trấn tại Biên-hòa có hơn

trót ngàn binh mã, kế nghe tin Nguyển-vương thất

thủ Saigon, và chạy về Mỷ-tho, thì Nguyển-hửu-Thoại bão công-chúa ở thủ đồn Bình-Hóa cũng

thuộc tĩnh Biên-Hòa, rồi đem vài trăm quân tuốt

theo hộ vệ đức Nguyển-vurơng chạy vào Rạch giá.

Đến lúc Nguyễn-hữu-Thoại phụng mạng Nguyển-vương qua Xiêm đặng cầu binh cứu viện, thì có

viết một phong thơ, rồi sai quân tâm phúc đem qua

Biên-Hòa mà giao lại cho công-chúa khai khán.

Công-chúa liền dở thơ ra xem thấy trong thơ

nói như vầy:

« Trước khi sang qua Xiêm quốc, ta vội vàng

cất bút tả bức thơ nầy, gởi lại hương khuê,

cho phu-nhơn tường lảm.

« Khi chúa-thượng thất thủ Saigon, thối binh

chạy vào Rạch-giá, trong lúc đồ cùng thế nhược,

khó bề đối lủy giao phong, các đạo cần-vương,

cũng đều lạc lài thất bại.

« Thật là hạc kêu tiếng gió, năm canh vía sỉ mơ

màng, lũy sập thành tan, mấy trận hồn binh

lạnh lẽo.

« Bởi thế, nên ta phãi phụng mạng sang Xiêm, cầu binh cứu viện, nắng mưa đất khách, non nước

dậm trường, dẫu rằng vạn khỗ thiên lao, ta cũng

chẳng nài khó nhoc, vậy xin phu-nhơn ở nhà,

gìn giữ thành trì, và bão toàn thân thể.

« Quân Tây-sơn đương lúc binh cường tướng

dỏng, còn binh ta thì sức yếu thế cô, nếu chúng

nó đem binh xâm lược Biên Hòa, thì phu-nhơn

phãi kiếm nơi tỵ nạn đồn binh, chẳng nên cùng

chúng nó tranh phong giao chiến.

« Hai ta tuy là xa cách nhau, kẽ phương trời người

góc biển; nhưng mà tấm lòng vẫn gần nhau, như

khi truớc ngỏ lúc bên phòng.

« Xin phu-nhơn trầm tư thẫm đoán, liệu lượng

mà ứng biến tùy cơ, cho yên lòng kẽ trỗi bước

quang hà, ngàn trùng diệu vợi. »

Tiện phu NGUYỂN-HỮU-THOẠI cẩn ký

Công-chúa xem thơ rồi lại văn phòng lấy bút

nghiên viết một phong thơ trã lời cho Nguyển-hữu-Thoại như vầy:

« Thiếp đặng tin phu-tướng phụng mạng sang

Xiêm, cầu binh cứu viện, cái tin ấy thiếp mới

xem qua, thì chẳng xiết lo buồn, nhưng xét lại,

thì vui mừng hớn hỡ, buồn là buông đôi ta phải

quang hà cách trở, nhạn bắc hồng nam, kẽ thì

chiếc bóng song the, thãm nỗi phòng lang vắng

vẽ: người thì một mình đất khách xiết bao mưa

nắng giải dầu.

« Nhưng mà, mừng là mừng trong lúc quốc bộ

gian nan, nước nhà hữu sự, mà được một người

trung thần kiệt sỉ như phu tướng, hết lòng vì nước, ra mà gánh một trách nhậm, rất khó nhọc

rất nặng nề, tuy chưa biết kết cuộc thế nào,

song cái phận làm thần tử như phu-tướng ngày

nay, đối với xã-tắc, đối với sơn-hà, thì cũng

được gọi rằng một bực trung thần nghĩa sĩ.

« Vậy thiếp xin phu-tướng cất bớt cái lòng ái-tình phu phụ, mà đổi làm một khối ái quốc tinh

thần, dẫu chúng ta cách xa nhau vạn thủy thiên

sơn, cũng gìn giữ một tấm cang trường thiết thạch.

« Thiếp tuy là một gái thân bồ vóc liễu, nhưng

cũng biết cái phận sự đối với nhà với nước thế nào.

« Nghĩ cho trong lúc loạn ly điên bái, quốc bộ

gian nan như vậy, làm một gái thượng lưu như

thiếp, cũng nên dẹp cái nghề soi gương điễm phấn

nơi chốn khuê phòng, mà học theo cái tài lước

đạn xông tên, trên đường hoạn nạn, chẳng lẽ cứ

theo thói hẫn hờ lơ lãng, cũa phụ nữ thường tình,

mà đễ cho tiếng đời chê rằng là bọn yếm mang

quần vận.

« Vậy xin trên phu-tướng phải ra công phò nguy

tế khổn, hết sức cùng vua, dưới tiện thiếp cũng

nguyện trải mật phơi gan, một lòng tiết nghỉa. »

Tiện thê NGỌC-DU công-chúa kỉnh bái.

Công-chúa viết thơ rồi phong lại và đưa cho tên

quân nhơn bão phải lập tức đem về trao lại cho

Nguyễn-hữu-Thoại.

Tên quân vâng lịnh lãnh thơ, rồi từ giã công-chúa

trở về Rạch-giá.

Lúc bấy giờ công-chúa ỡ thủ đồn Bình-Hóa, thường

thường mổi bữa đem quân ra đồng diển dượt trận thế, khi thì vào rừng tập cách phục binh xạ tiển, lúc

thì lên núi lập thế cứ hiểm đồn quân.

Công chúa có hai tên thể nữ, một đứa tên là

Huỳnh Anh, một đứa tên là Bạch-Yến, hai đứa nầy

vóc to sức mạnh, vỏ nghệ tinh thông, mổi khi công-chủa diển trận bài binh, thì hai thể-nữ ấy, cởi ngựa

mang gươm, rồi kéo đội nử binh ra đứng dàng hầu

hai bên công-chúa.

Còn Công-chúa thì mình mặc một áo chiến bào

sắc xanh, trước ngực có một chùm bông kết bằng

lụa đỏ, đầu đội một mũ da cọp, trên mũ có dắt một

cặp lông công, bên lưng đai một song thanh-kiếm,

tay cầm một cây cờ sắc vàng, chung quanh có chạy

một đường chơn rít, xem rất đẹp đẻ.

Công-chúa cởi một con chiến mã sắc hồng rất tốt,

rồi ra giữa diển trường, khi giục ngựa chạy tới, lúc

hô quân thối lui, khi cầm kiếm chĩ huy, lúc phất

cờ truyền lịnh, còn các tam quân tướng sỉ, đâu đó

bố trận liệt hàng, vát giáo cầm khiên, thảy đều tề tề

chỉnh chỉnh.

Thật là một vị nữ-tướng đường đường diện mạo,

lẩm lẩm dung nghi, như một vị thần-nử lai trần,

như một bà Trưng-Vương xuất trận.

Khoan thai thay cho một gã Hồng nhan nương-tử, phất cờ giục trống, mỉa mai chim phụng múa

đường mây; diệu dàng thay cho một vẽ kiều mị

phu-nhơn, cởi ngựa cầm thương, mường tượng

hoa đào nghinh ngọn gió.

Bữa nọ công-chúa diển trận tập binh rồi trở về

đi ngang qua một cái núi, thấy ẩn ẫn trên núi, có một tòa miểu-võ lấp ló trong mấy cụm cây, Công-chúa liền truyền lịnh đình quân, đóng dưới chơn

núi, rồi dắc hai thể-nữ lên xem, hai bên đường chỉ

thấy cỏ hoa thưa thớt, đá liển chập chồng, chổ thấp

nơi cao, lần lần trèo theo bực núi.

Khi lên tới sân, thấy miểu cất trên một bàn thạch

rất to, bốn phía đều có cây cao bóng mát, cảnh

đẹp non xinh, Công-chúa với hai thể nữ bước vào,

thấy trước miểu có một tấm biển đá, khắc năm chữ

vàng: « Nam-Nhạc-Đại-Vương miểu » liền bước

vào trong xem coi, thấy chính giữa một tượng

Đại-Vương rất lớn để ngồi trên ngai, mặt đen râu

cụt, áo mảo nghiêm-trang, trước cột có mấy đôi

liển sơn son, và trên điện có màng treo chấn phủ.

Kế mấy người sau miểu chạy ra cúi đầu chào

Công-chúa.

Công-chúa liền bước lại hỏi rằng: các ngươi có

biết sự-tích của Đại-Vương nầy làm sao không?

Mấy người ấy đáp rằng:

— Bẫm quới-nương, chúng tôi nghe nói Đại-vương nầy là gốc người Chiêm-thành khi trước,

thật là anh linh hiển hích lắm, thường thường trong

lúc trời thanh gió tịnh, hay là trong khi đêm vắng

canh khuya, thì Đại-vương hay hiện lên đứng trên

đảnh núi sờ sờ, rồi đi trên ngọn cây, như một

bóng đen thoãn qua thấm thoát, nếu ai gặp ngài

mà không vái vang cúng tế, thì ngài vật chết và

làm cho trong làng xóm không yên.

Bữa nọ ngài nhập cho một người ỡ làng nầy

lên đồng, xưng là « Nam-nhạc đại-vương » và bảo

làng phải lập miễu phụng thờ, từ đó trong làng ai có việc chi cầu khẩn đến ngài, thì ngài đều phò

hộ mách bảo, vì vậy nên nhơn dân trong xứ nầy

ai ai cũng đều sùng bái tin ngưởng ngài lắm.

Công-chúa nghe nói liền bảo người-từ ở giữ

miểu ấy, sắm sữa hương đăng, và dộng chuông

đánh trống, rồi công-chúa bước ra đứng trước

hương án cúi đầu ba cái, cầm hương dâng lên và

khấn rằng:

« Tôi nghe rằng: sống làm một người trung

thành nghĩa khí, thát làm một vị thần thánh anh

linh, bảo hộ người lành, trừng phạt kẽ dử, oai

linh khắp cùng sơn nhạc, ân đức ra tột Hương-thôn, biết việc quá khứ tương lai, rỏ đều kiết

hung họa phước.

« Tôi công-chúa Ngọc-Duệ là một gái thơ ngây

yếu đuối, gặp lúc nước nhà bác loạn, xả tắc

khuynh nguy, thân nầy như cá trong ao, dường

chim mất bạn, chí muốn phò nguy cứu nạn, dẹp

đãng nghịch thù, nhưng chẳng rõ việc lợi hại

hung kiết ngày sau thế nào, nên đến đây cầu

xin thần minh chỉ giáo

« Vậy nếu Đại-vương là đứng bực thánh thần,

anh linh hiển hích, biết sự ký-vảng, rỏ việc

tương-lai, thì xin Đại-vương mách bảo việc kiết

hung họa phước thế nào, cho tôi là Ngoc-Duệ

rỏ biết. Và Đại-vương cho tôi xin một keo thử

coi, như được thì ngài cho một sấp một ngữa,

gọi rằng quẻ có âm-dương, còn không thì ngài

cho hai miếng keo nầy đều ngữa ra hết ». Khấn

rồi, công-chúa liền lấy hai miếng cây để trước

hương án, hai tay xá một cái rồi quăng ngay

xuống đất.

Hai miếng cây nhảy nhảy ít cái, rồi dựng đứng

trên mặt đất, không cái nào nằm hết.

Công-chúa lấy làm lạ và tự nghĩ rằng: thường

thường xin keo có thánh thần ứng nghiệm, thì cho

một miếng ngửa một miếng sấp, ấy là quẽ có âm

có dương, mới gọi rằng được việc, nay cớ gì hai

miếng cây lại đứng sửng trên đất, thế thì Đại-vương nầy không có linh nghiệm chăng? hay là

muốn cợt mình chăng?

Nghĩ vậy rồi công-chúa lượm hai miếng cây lên,

và vái lầm thầm một chút rồi quăng xuống một

lần nữa.

Hai miếng cây nhảy lên nhảy xuống ít cái, và

chạy một vòng, rồi cũng đứng sửng trơ trơ trên

đất như nảy.

Công-chúa thấy thì lấy làm một sự quái gở phi

thường, tức thì lửa giận hừng lên, rồi thạnh nộ

và rút gươm bên lưng ra chỉ ngay cái tượng ngồi

trên ngai mà nói lớn rằng:

Ớ Nam-nhạc Đại-vương kia, ta nói cho ngươi

biết, ta đã làm lễ khẫn vái cùng ngươi, xin hai keo

rồi mà không thấy ứng nghiệm chi hết. Vậy ta cũng

dằn lòng nhẫn khí, mà xin thêm một keo thứ ba

nữa, nếu không ứng nghiệm theo lời ta xin, thì rỏ

ràng là ngươi chẳng phải một vị chánh trực linh

thần, lẽ nào ngươi ở đây mà lạm thực hương hỏa

của nhân dân cúng tế.

Ta nói cho ngươi biết rằng: nếu ngươi không có

anh linh hiển hích, thì ta sẽ chém quách đầu ngươi,

và phá nát miểu nầy, từ đây về sau, ta chẵng cho

ai khói hương cúng quãy chi hết.

Mấy người đứng trước miểu nghe công-chúa nói

lớn, không biết chuyện gì, ghé mắt dòm coi, thấy

công-chúa sắc mặt phừng phừng, má đào ững ững,

hai mắt trợn lên sáng hoắc như hai đốm tinh-quang,

đôi mày dửng lên cong vòng như hai vành bán-nguyệt, coi bộ hầm hầm khí sắc, rút gươm chỉ ngay

mặt Đại-vương, thì thất kinh rồi xầm xĩ cùng

nhau, lắt đầu le lưởi và nói: trời ôi! nàng ấy dữ

quá, sao dám xĩ mạ Đại-vương? không sợ chết sao?

Còn công-chúa nói rồi, liền lấy hai miếng cây,

cầm nơi tay đập xuống hương án cái bốp, ngó lườm

lườm cái tượng Đại vuơng, và nói cách nghiêm

nghị rằng:

Đại-vương, ngươi phải biết lần nầy là lần thứ

ba mà ta cầu khẫn ngươi đây, nếu ngươi muốn ngồi

vững trên ngai, và muốn toạ hưởng trong miễu nầy

lâu dài, thì ngươi phãi ứng vào keo thứ ba, ta sẽ

xin cùng ngươi đây; bằng không, thì đầu ngươi sẽ

văng ngay xuống đất, nói rồi cầm hai miếng cây

liệng xuống một cái, thì thấy một miếng ngửa một

miếng sấp, bổng nghe phía trong vật chi rớt xuống

cái cãn, ngó lại thì thấy cái mảo sắt của Đại-vương

đương đội trên đầu, thinh không đã rớt ngay xuống

đất, người từ trong miểu thấy thì cã kinh, lật đật

lượm mão đem lại để trên hương-án rồi vập đầu

xuống đất cồm cộp vừa lạy vừa vái lầm thầm rằng:

Cầu xin Đại-vương bớt giận bớt giận.

Tôi là thằng Từ giử miếu cho đại-vương bấy lâu

tôi nhờ cái oai thế đại-vương mà làm nghề buông

hương bán khói, đánh trống dộng chuông, đăng kiếm

tiền chi độ vợ con, tôi không dám xúc phạm đại-vương đều chi, xin đại-vương đừng giận lây tới tôi,

tội nghiệp tội nghiệp, cầu đại-vuong bớt giận bớt giận.

Trong ý tên từ nầy ngỡ là đại-vương giận mà

nộ phát xung quang, chớ chăng dè Đại-vuong

thất kinh mà rớt mão.

Lúc bấy giờ công-chúa thấy xin keo được, thì

day lại nói với hai tên thể-nữ rằng:

Keo này có dương có âm, thì quẽ đã ứng nghiệm,

vậy thì chúng ta hảy xuống núi trở về, nói rồi cã

ba người dắc nhau đi ra, kéo quân về trại.

Mấy người trong miểu lật đật bưng mão đem

lại đội lên cho Đại vương và nói cùng nhau rằng:

Người gái ấy không biết ở đâu, làm chức chi mà

coi bộ ngang tàng quá quắc, dám xúc phạm xĩ mạ

Đại-vương, thế thì người gái ấy điên hay sao, nên

mới dám cã gan như vậy? chừng sau hõi lại mới

biết là công-chúa Ngọc-Duệ, là chánh thất cũa

quan chưỡng-dinh Nguyển-hữu-Thoại, nàng đi diễn

trận hành binh, thấy miễu thì ghé lại xin keo

thí nghiệm. Thi rằng:

Hởi bạn quần-xoa phải biết mình,

Hể là đức trọng quĩ thần kinh,

Xưa nay những gái anh hùng thế,

Danh giá lưu truyền quán sử xanh,

Cũng tiếng ông thần chức đại-vương,

Cớ sao ghẹo chọc gái cang cường.

Hồn mê thế đã quên danh vị,

Chút nữa đầu rơi trước miểu đường.

(Xin coi tiếp cuốn thứ năm)

Hết chương 27

Chương sauHồi thứ hai mươi lăm

Đọc chương 28 →

Bình luận về truyệnTrang truyện