Giọt máu chung tình

Chương 10: Hồi thứ tám

Khoảng 17 phút đọc · 3.703 chữ · Bôi đen một đoạn để bình luận

HỒI THỨ TÁM

Trai anh hùng, ướm buộc chĩ nhơn-duyên,

Gái thục-nử, nặng giao lời thệ ước.

Kế đó Đông-Sơ bước tới ít bước, rồi dừng chơn đứng

lại nơi dưới bóng sáng trăng và cúi đầu chào Tiểu-thơ

một cách lễ nghi lịch sự.

Tiễu-tho thấy rỏ Đông-Sơ thì sắc mặt tràng ra nữa đỏ

nửa xanh, trong lòng nữa mừng nữa sợ. Mừng là mừng

thấy người tình xưa nghĩa củ, nay đặng tái hội trùng

phùng. Sợ là sợ nổi gươm oán giao thù, sanh đều tai lây

họa gỡi. Vì vậy nên Tiễu-thơ rối loạn tâm thần mà ngẩn-ngơ hình dạng. Đó rồi day lại biểu Thễ-nử ra mời Đông-Sơ vào.

Khi Đông-Sơ bước vô lương-đình, đương liết mắt mà

ngó Tiểu-thơ, còn Tiễu-thơ thì khép nép một bên, rồi cũng

nhắm Đông-Sơ tướng mạo, thì thấy đầu chích một khăn

thanh cân, có thêu kim ngân lạc khoãn, mình mặt một

bộ đồ vỏ phục, có thêu huê dạng rở ràng, dưới chơn thì

mang đôi vỏ hài, nịch tắt thủy ba, cao lên chí gối, bên

lưng đeo một cây đoãn kím, vỏ bạc cáng vàng, trên vai thì

choàn một sợi hồng-la, nó nhỏng nhảnh có thắc hoa kết tụi

Thật là:

Dung nhan tướng mạo phi thường,

Phong nghi đáng một đường đường trượng phu.

Đó rồi Tiễu-thơ mới nhích môi yến chi đỏ đỏ; hở răng

bạch ngọc trong trong, liết cập mắt thu ba, rồi buông lời

thanh bai mà hỏi: « Thưa quan nhơn, trong lúc đêm

khuya tịch mịch, người dầm sương đội nguyệt, lước dặm

băng ngàn mà đến đây, chẳng biết có đều chi cần kíp

muốn tỏ cùng tôi, xin nói cho tôi rỏ. »

Đông-Sơ nghe hỏi thì đáp rằng: Thưa Tiễu-thơ, không

có đều chi cần kiếp hơn là đều tôi đã ôm ấp và cất để

trong một góc lòng tôi, từ khi tri ngộ. Tiễu-thơ đến nay,

không giây phúc nào mà tôi rời nó ra đặng, và cũng không

đều chi thiết yếu hơn là đều tôi đã gánh vát nơi vai tôi

mấy đêm nay, mà đứng đợi ngồi trông nơi một góc vườn

nầy, ước ao cho gặp Tiễu-thơ, đặng giở ra cho Tiểu-thơ

xem, và nói ra cho Tiễu-thơ thơ rỏ, như Tiểu-thơ đem

lòng hạ cố, mà hỏi tôi đều ấy là đều chi, thì tôi xin lổi

cùng Tiểu-thơ mà trả lời rằng: đều ấy là một đều tâm

sự rất thiết-yếu của tôi với Tiễu-thơ đó thôi; chớ không

đều chi cần kíp hơn nửa. »

Tiễu-thơ nói: quan-nhơn nói rằng đều tâm sự ấy là

một đều cần kiếp, nếu quan-nhơn nói vậy thì tôi e cho

lời đó rất lầm, vì có một đều rất cần kíp hơn nữa, là

đều tôi muốn hỏi quan-nhơn bây giờ đây: quan-nhơn có

biết chỗ nầy là một chỗ rất nguy hiễm cho quan-nhơn lắm

chăng? Chổ nầy là một chổ người ta bủa lưới giăng

rập mà hãm hại quan-nhơn, Quan-nhơn đến đây chẳng

khác nào đến chổ gươm đao, và vào hang hùm cọp đó

vậy. Tôi tưỡng sự ấy là một sự rất cần kíp cho quan-nhơn phải biết mà tránh đi, song chưa rỏ quan-nhơn biết

chăng, hay là chẳng biết?

Đông-Sơ nghe rồi mỉn cười và day lại đáp rằng: tôi rất

cãm ơn Tiểu-thơ thạnh tình chiếu cố, mà tỏ sự nguy hiễm

ấy cho tôi nghe, song tôi đã biết trước rồi, sự nguy hiễm

ấy nó ở nơi lổ miệng của một người ngồi đây nói chuyện

với Tiễu-thơ khi nãy; và chẳng những tôi biết đây mà

thôi, mà tôi cũng biết tới sự nguy hiểm trong khi tôi vào

diển-trường mà thí vỏ nữa. Nhưng mà sự ấy không đủ

làm cho tôi kinh tâm táng đỡm? Và không đũ làm cho tôi

rủng chí ngui lòng, vì cái phẫm hạnh dung nghi của Tiễu-thơ làm cho tôi hết biết sợ sệt cái bẩy rập nguy hiễm người ta giăng trước mắt tôi, và cái lòng tư tưỡng quyến luyến

Tiễu-thơ làm cho tôi hết biết kinh khủng sự cọp hùm đao

kím. Tôi cũng biết rằng Tiểu-thơ đem lòng thương tưỡng

đến kẻ phước bạc tình suy, nên mới dám đến đây mà cạng

tỏ niềm riêng, ngỏ xin đài gương soi xét; dẫu rằng tang

xương nát thịt, tôi cũng cam lòng, miểng là tôi đặng Tiểu-thơ đoái chút tình thương, thì cũng đũ làm cho tôi đặng

vinh vang danh giá.

Tiểu-thơ nói: « Thưa quan-nhơn, tôi chưa hề khi nào

nói với quan-nhơn rằng: tôi thương tưỡng quan-nhơn. »

Đông-Sơ nói: « Tiễu-thơ ôi! Thật Tiễu-thơ chẳng nói rằng

thương tôi, nhưng mà Tiễu-thơ cũng chẳng nói rằng chẳng

thương. Vã lại tôi tưỡng nếu Tiểu-thơ không đem lòng

thương tưỡng, thì tôi đã bị mủi tên độc-thũ, mà bõ mạng

nơi giữa đàng rồi, còn chi mà ngày nay đặng trùng phùng

tái hội, và đặng thấy cái vẻ nhan sắc xinh đẹp của Tiễu-thơ trong lần thứ hai nầy đâu.

Tiễu-thơ nghe nói thì sững sốt trong lòng, thầm nghĩ

rằng: sự nầy mình không dĩ hơi cho ai hay, mà sao va

biết cũng lạ, rồi day lại mà nói với Đông-Sơ rằng: « Đó là

phước mạng quan-nhơn, chớ tôi không tài chi mà ngăn

cãng mũi tên ấy đặng?

Đông-Sơ nói: Tiểu-thơ ôi! Tiễu-thơ tuy không tài đỡ

đạn ngăn tên, song cái tình Tiểu-thơ thương tưỡng đến tôi,

thì cũng đũ cứu tôi khỏi vòng tai nạn. Cái tình ấy làm cho

tôi chạm dạ ghi xương, dẫu ngàn năm cũng không ngui

ngoai xao lãng, đã vậy mà Tiểu-thơ cũng còn rộng lòng

ân cố, mà cho tôi hít đặng cái mùi hương trầm thơm tho

của Tiểu-thơ rơi rớt; và cho tôi một vật rất quí báu, làm

cho tôi thấy vật ấy cũng như thấy cái vẻ nhan sắc xinh

đẹp của Tiễu-thơ, tôi thấy đó mà nhớ dạng thương

hình, đến đỗi mình gầy vóc ốm. Tiễu-thơ ôi! Tiểu-thơ xin

hãy nằm đêm suy lấy đó; rồi gát tay trên tráng nghĩ mà

coi; nếu chẳng phải ba sanh duơn nợ, thì ai xui cho gặp

gở thình lình, nếu chẳng phải giai ngẩu thiên thành, thì

trời sao khiến cho dây tình nó vấn vương ràng buộc. »

Tiễu-thơ nghe nói thì cãm động lòng thương, song chẳng

biết vật chi mà gọi là mình cho cũng lạ. Tự nghĩ như

vậy, rồi day mắt liếc Đông-Sơ và hỏi rằng: « Quan nhơn

nói rằng tôi cho Quan-nhơn một vật quí báu ấy là vật chi?

Xin Quan-nhơn nói cho tôi rỏ thữ. »

Đông-Sơ nghe hỏi liền thò tay vào túi lấy ra một cái

khăn mẩu-đơn, hảy còn phưởng phất mùi hương, rồi đưa

ra và nói; Tiễu-thơ ôi! cái món nầy là một món quí báu

phi thường, chẳng biết bao nhiêu chỉ tơ xe dệt, rất chắc

chắn khít khao, để làm một dây tơ hồng mà buộc cái tình

chung của Tiễu-thơ và tôi lại đó. Tiểu-thơ ôi! cái tình ấy

tuy là vô hình vô trạng, song rất mạnh mẻ vô cùng; nó

làm cho sống chẳng rời nhau; mà thác cũng không rẻ

nhau đặng đa Tiễu-thơ. Tiểu-thơ ôi! nay tôi vì cái tình

nồng nghĩa mặng ấy và cái cách điệu cữ chỉ của Tiễu-thơ

rất đầm thấm diệu dàng, làm tôi cho đem lòng thương

hương mến ngọc, mà chẳng kễ gươm đao, không kiên thù

hận, chỉ quyết đến cho tạn mặt Tiễu-thơ, mà gạn hỏi ít

lời: như Tiễu-thơ đành lòng gá nghĩa tóc tơ, thì xin Tiểu-thơ hứa trước một lời mà tạc đá ghi vàng; rồi sau tôi sẻ

cậy người mai ước.

Tiễu-thơ nghe nói thì hai má ững hồng, dường như có

sắc thẹn thuồng, song cái cách điệu nghiêm trang dung

nghi tề chỉnh, chẳng hề để một lời chi hốt tốt, lộ ra ngoài

môi, và chẳng đễ cái tình thương yếu lộ ra sắc mặt, rồi

day lại mà nói với Đông-Sơ rằng:

Những đều phân trần trước đó, tôi e cho Quan-nhơn

chẳng kịp cạn xét cùng suy, mà tưởng lầm tin lộn đó

chăng? Sự tôi cứu Quan-nhơn trong một phong thơ kia,

là một sự tôi trã ơn cho Quan-nhơn. Cái ơn tri ngộ Quan-nhơn tôi xin tạc dạ ghi xương, vì vậy nên tôi chỉ biết một

sự lo mà ân đền nghĩa trã cho Quan-nhơn đó thôi, chớ

tôi chẳng biết đều chi khác nữa. Song Quan-nhơn ngở

rằng một sự ý hiệp tình riêng, làm cho tôi rất phiền lòng

và hỗ thẹn. Vã lại Quan-nhơn cũng rỏ rằng: tôi tuy là

phận nữ lưu bồ liễu, song cũng con nhà phiệt diệc danh

gia, lẻ đâu dám lấy sự tình riêng mà kết giao đối đãi. Vậy

xin chớ lấy sự luân thường lể nghĩa, mà xem dường một chuyện dởn mận chơi đào, và chớ tưởng sự trộm phấn mến

hương mà mang đều tội lỗi. Còn như Quan-nhơn đem sự

tình nặng nghĩa sâu mà tưởng đến phận đào thơ liễu yếu;

thì tôi rất cãm tạ muôn vàng, nhưng mà việc trăm năm

tơ tóc, thì chờ cha mẹ định đôi, tôi dám đâu hứa chắc

cùng Quan-nhơn, vậy e lỗi niềm tữ-đạo, vã lại Quan-nhơn

cũng rỏ biết rằng; anh tôi cùng Quan-nhơn, đương lúc

câm lòng thù hận, nằng nằng thệ chẳng chung trời, còn

cha tôi thì còn ở Trung-kỳ, ấy là một sự trắc trở phi

thường, dể chi mà cậy lời mai ước. Vã lại những bực

hồng nhan-thục nữ trong thiên-hạ, chẳng thiếu chi người,

xin Quan-nhơn chọn những trang quốc sắc thiên tài, mà

kết duyên cho xứng đôi vừa lứa, sá chi một phận liễu yếu

đào thơ như tôi, mà phải nhọc lòng Quan-nhơn quyến

luyến. »

Đông-Sơ nghe những lời Tiễu-thơ đối đáp, dường như

ruột héo gan xào, rồi nét mặt dàu dàu, làm cho nghẹn lời

mà không nói đặng. Kế đó Thể-nữ bưng trà lại mời, Đông-Sơ uống hết một chung, rồi day lại mà nói rằng: « Tiễu-thơ ôi! Tiểu-thơ vẩn là con nhà thi lể, phẩm giá thơ

hương, đã bác lãm quần thơ, thông tri kim cổ, Tiễu-thơ

lẻ nào chẳng nhớ người xưa có nói câu rằng:

Minh quân lương tể tao phùng dị.

Tài tữ giai nhơn tế ngộ nang.

Tiễu-thơ ôi! Tiễu-thơ nghĩ đó mà coi, những bực minh

quân lương tướng gặp nhau cũng chẳng khó gì, chí như

tài tữ với giai-nhơn thì dể chi gặp nhau cho xứng đôi

vừa lứa đặng. Nay Tiễu-thơ và tôi dẩu rằng chưa phải

bực tài-tữ giai-nhơn, song cũng một phẫm thuyền-quyên

với một trang tuấn kiệt, ấy cũng một đều lương duyên

may mắng, có mấy khi mà gặp hội tao phùng. Tiểu-thơ

nghỉ đó mà coi, đá nọ thì dễ tìm, chớ ngọc kia tôi e khó

kiếm, nếu Tiểu-thơ dầu đành hẹp lượng, mà chẳng tưỡng

đến sự nghĩa nặng tình thâm, chẳng là tội nghiệp cho

lòng tôi mến ngọc thương hương bấy lâu, và cũng uỗng

cho cái công cực khỗ tôi rày ước mai ao, trông cho gặp

Tiễu-thơ mà gắn vó một lời tơ tóc.

Tiểu-thơ ôi! vả tôi nay cha mẹ đã sớm về cỏi thọ, còn anh em thì tứ cố vô thân, tôi cũng ước ao cho gặp đặng

một thục nữ giai-nhơn, đặng mà chung hưỡng sự vinh

hoa phú quí, cho tữ ấm thê phong, thì mới toại chí bình-sanh, và phĩ tình sở nguyện. Nếu như tôi vô duyên xấu

phước, mà khiến cho Tiễu-thơ chẳng đoái tình thương;

thì tôi xin tỏ thật một lời: những sự công danh phú quí

trong đời nầy, tôi chẳng cần chi cực khổ mà ràng buộc

nơi lòng, những sự huê mỉ phiền ba trong thế gian nầy,

chẳng hề làm cho tôi động lòng khoái mắt, những sự ăn

sung mặc suớng, mỉ vị cao lương, chẳng hề làm cho tôi

biết ngon ngọt béo bùi, những sự cửa tía lầu son, huê

bào ngọc đái, chẳng hề làm cho tôi đặng đẹp lòng hứng

chí, cái cãnh thanh lịch của vỏ trụ sang hà nầy, chẳng

hề làm cho tôi đặng tiêu sầu khiễn muộn, tiếng nhạc ca

tao nhã nơi cầm đài hí viện, chẳng hề làm cho tôi đặng

khuây lãng tâm thần.

Tiểu-thơ ôi! vậy tôi xin nói một lời rốt nầy cùng Tiễu-thơ, nếu trời khiến cho tôi chẳng đặng gần cái vẻ đẹp đẻ

thanh tân của Tiễu-thơ, mà vui gối tình chung, thì tôi

cũng liều bỏ cái thân danh tôi, cho nước chãy hoa trôi,

bỏ cái duyên phận tôi cho mây tan bèo dạt. Và tôi nhứt

nguyện rằng tôi sẻ ở vậy trọn đời, chẳng hề cùng ai vui

tình cang lệ.

Tiễu-thơ ôi! Vui chi vui vậy cũng là, ai tri âm đó, mặng

mà với ai,

Đông-Sơ nói rồi đứng sững mà thở ra, còn xem sẳc

diện thì nhao-nháo buồn dàu, như cậu kép với cô đào,

hát lối tữ biệt sanh ly, mà làm mặt sầu bi thãm đạm.

Tiễu-thơ thấy vậy thì lần chơn bưới tới cách yễu điệu

khoan thai, lại đứng trước Đông-Sơ mà liết cập mắt hữu

tình, như sao nam tinh nó chói ra nhấp nhán; rồi miệng

cười chuốm chiếm, xem rất hửu duyên, môi đỏ hồng hồng,

đẹp đẻ như bông mới nở, đó rồi nàng buông lời tao nhã

vói hỏi Đông-Sơ rằng: « Thưa Quan-nhơn, chẳng biết

những lời tôi tỏ với Quan-nhơn khi nảy, dường có đều chi

thất lật, làm cho chít mít dạ người, nên xem sắc mặt không

tươi, hay là có hờn trách đều chi mà sanh lòng phiền muộn

phải chăng? »

Đông-Sơ nghe hỏi thì day lại đáp rằng: « Tiễu-thơ ôi!

Phiền là phiền số tôi xấu phước, mà khiến cho chẳng gặp

người thương; buồn là buồn chúc phận vô duyên, khiến

cho nói không người chịu! » Tiễu-thơ nói: Quan-nhơn ôi!

Bây giờ đây tôi xin tỏ thiệt cùng Quan-nhơn, những đều

tôi nói với Quan-nhơn khi nảy là tôi muốn đem lời khó

dễ, mà dọ thử lòng người đó thôi. Nếu như Quan-nhơn

quyết lòng vầy duyên cang lệ, cho trăm năm kết chặc chử

đồng tâm; thì tôi cũng nguyện trọn nghĩa tóc tơ, dầu ngàn

thuở cũng chẳng sai lời ước thệ. »

Đông-Sơ nghe nói thì lòng mừng khấp khởi, phúc chúc

mặt nở mày tươi; rồi chúm chím miệng cười và day lại

buông lời pha lững mà nói: thật tôi trách Tiểu-thơ ở chi

sâu sắt, sao không sớm chịu hứa lời; để cho tôi nói nĩ

non, nói đã hết hơi, còn buồn nhao-nháo buồn gần muốn

chết. »

Tiễu-thơ nói: Quan-nhơn ôi ! Việc sâu sắt tôi xin đừng

vội trách, chuyện hơn thua người nghĩ đó mà coi. Nếu

chẳng ra khơi thì sao rỏ mặt biển rộng dài; còn có gặp

lữa mới biết tuổi vàng cao thấp, đa Quan-nhơn.

Đông-Sơ nói: « Tiễu-thơ ôi! Nếu Tiểu-thơ nói vậy, thì

tôi xin trã lời lại vầy: việc rộng hẹp phải đo mới biết, còn

chuyện thấp cao, chẳng thử sao tường, Tiễu-thơ cũng biết

rằng: lẻ ấy vốn là lẻ thường, nhưng mà tôi e lắm đa Tiễu-thơ, e là e cho Tiểu-thơ nói mà chẳng chịu đo, dò mà

không chịu thữ, đó thôi.

Tiễu-thơ nghe Đông-Sơ trã lời như vậy, bổng nhiên hai

gò má phấn đã rần rần máu đỏ, ửng ửng sac hồng, và liếc

mắt háy Đông-Sơ, rồi vội vã lấy khăn che mặt, còn miệng

thì chúm chím mỉnh cười miếng chi, rồi đứng cách yễu

điệu phương phi, rỏ ràng là một bực giai nhơn tuyệt sắc,

thật là đẹp đẻ thay cho cái vẻ thiên kiều bá mị, của một

gái thuyền quyên như Tiểu-thơ, nó nhởn-nhởn, nhơ-nhơ,

hiện ra trước mặt Đông-Sơ, làm cho khách chung tình nầy,

rối ruột lộn gan, điên hồn lạc phách, mà đứng sững ngó

trân, rồi cái ngọn lửa chung tình, nó phừng phừng lên

trong lò tư dục, làm cho Đông-Sơ mắt đỗ hào quang, như

thấy một nàng Hằng-Nga xuống mà đứng nhắp nhán nơi dưới bóng trăng, như thấy một dạng tiên-nữ kia đi khoan

thai bên bóng đèn khuya leo lét đó vậy.

Thật là:

Lạ thay nết nói nết cười,

Nết sao dễ khiến cho người muốn điên.

(Đây tôi xin lẳng lơ hỏi thữ liệc vị khán quan một ít lời,

giã như liệc vị khán quan lại mà đứng nơi một địa vị cũa

Đông-Sơ nầy, trong lúc trăng thanh canh vắng, mà gập một

cãnh tình thinh lịch như vậy, thì chẳng biết liệc vị khán

quan-sẻ cữ động ra thể nào hê? thế thì tôi tưởng cho

chư vị khán quan cũng như tôi.

Đó rồi Đông-Sơ buông lời nhõ-nhẻ, lấy giọng lẵng lơ,

mắt liết Tiểu-thơ, rồi mĩn cười và nói: Tiễu-thơ ôi! nay

tôi muốn đỗi cải tiếng Tiểu-thơ, mà kêu lại bằng Tình-Khanh cho dể nghe, ước có được chăng?

Tiểu-thơ nói: « Còn tiếng Quan-nhơn ấy chẳng biết đỗi

lại mà kêu bằng chi?

Đông-Sơ nói: « Tự ý Tình-khanh, muốn kêu Đông-Sơ

hay là Tây-Sơ chi cũng đặng, song tôi xin đừng kêu bằng

Đông-Yên mà tôi thành ra điên-ông tội nghiệp:

Tiểu-thơ mĩn cười và nói: « Mới gần gần mà thôi, chớ

chưa đâu phòng sợ. »

Đông-Sơ nói: « Tình-khanh ôi! trong lúc trời khêu sao

tõ, gió ruợc mây bay nầy, xin Tình-khanh bước ra hoa-viên đặng xem trăng chơi cho mát. Đó rồi, Tiễu-thơ khoan

thai bước ra hoa viên. Hai người đi thơ thẫn nhỡn-nhơ,

khi thưởng nguyệt lúc xem hoa, cười cười nói nói, cái

tình cãnh xinh đẹp mặng nồng nầy, chẳng biết bao

nhiêu mà vẻ cái tình trạng thanh tao thân-ái ra cho đặng.

Đó rồi Đông-Sơ day lại nói với Tiểu-thơ rằng: « Tình-khanh ôi! Tôi có nghe rằng đêm xuân một khắc, giá đáng

ngàn vàng, nay đã dành cho phụng nọ dựa kề loan, nhưng

mà, chưa biết chừng nào mới đặng sắc cầm hòa rập nhịp?

Bấy lâu tôi những ước ao cho lứa xứng lứa, như nhành giao lá tiếp, duyên phải duyên, cho đẹp dạ vui lòng, rày

gặp cơn gió mát trăng trong, đâu lẻ nở phụ lúc canh tàng

đêm lụng, thì uỗng lắm a tình-khanh. »

Tiểu-thơ nói: « Thưa Tình-quân, đôi ta đã hứa cùng

nhau một lời rằng: trăm năm tơ tóc, thì phải đợi kỳ sính-lễ thành hôn, rồi sẻ hoa chúc động-phòng, cho rỏ ràng

lương-duyên giai-ngẩu, vậy trước đã đặng đẹp lòng cha

mẹ, trong khi dưỡng dục sanh thành, vậy mới gọi là đền

đáp chúc nghĩa nặng tình thâm, cho kẻ áo cơm bồng ẫm,

Kẻ ấy là kẻ đã chịu nhọc nhằn mà săng sóc cho chúng ta.

Ngày nay đặng khôn lớn trưỡng thành, chĩ mông định

lứa sánh đôi cho chúng ta, rồi mới đành lòng đẹp dạ, nay

nếu chúng ta ham sự vui riêng một chúc, mà quên đều

công nặng ơn dày, rồi nghĩ đến duyên phận ngày sau, thì

tôi e cho ăn năn mà lại nhột lòng hỗ thẹn. Chẳng những

là phận gái như tôi đã lổi niềm hiếu đạo, với kẻ dưỡng

dục sanh thành, mà lại làm cho dơ lấm lu-lờ cái ánh

gương trinh bạch với Tình-quân sau nữa.

Tình-quân nghĩ đó mà coi, lẻ đâu chúng ta dám đem

cái nghĩa tơ tóc trăm năm, mà đỗi lấy cái tình trăng hoa

một thuở. Vậy tôi e chẵng khác chi đem cái phẫm giá

gương trong ngọc trắng của nhà quí tộc danh gia, mà đỗi ra

bướm mận ong đào, đỗi ra thói tồi phong bại tục của đám

hạ lưu nam-nử, nếu con người mà chẳng biết trung trinh

tu ố, thì sao rằng thục-nữ thuyền-quyên! Phận gái mà

chẳng giử tiếc hạnh chính chiên, thì ai cần chi mà nễ vì

yêu chuộng.

Tình-quân ôi! Nay tôi lén đem sự trăm năm duyên

phận mà hứa trước với tình-quân đây, thì cũng là một

đều tội lổi cho tôi rồi, song tôi nghĩ vì cái ơn của tình-quân cứu tử hoàn sanh, cho tôi trong khi Quan-âm-Cát,

ơn ấy rất trọng như ơn của kẻ dưởng dục sanh thành tôi

ra đây, vì vậy nên tôi cam lỗi với cha mẹ tôi mà chịu

trao duyên gởi phận cho Tình-quân đặng ngày sau kết

nghĩa phu thê, mà đền ơn tri ngộ.

Vậy xin Tình-quân chẳng nên nài hoa ép liễu mà làm

cho tôi thất hiếu thất trinh, thì ngày sau tôi còn mặt mũi

nào mà ngó Tình-quân trong lúc giao chén phòng hoa,

chung tình nệm gối.

Đông-Sơ nghe mấy lời rất từ nghiêm lý chánh, thì lại

càng đem lòng yêu mến kính vì, và thầm khen cho Tiễu-thơ đáng một phẩm hạnh thuyền quyên, phải một người

cầm quyền tề gia nội trợ, rồi nói:

Tình-khanh ôi! những lời tôi nói trước đó, là nói thữ

Tình-khanh, cũng như Tình-khanh nói thử tôi khi nảy

vậy; chớ lẻ đâu tôi chẳng biết chuyện nghịch lý tồi phòng

mà ép nài Tình-khanh vào vòng tội lỗi. ậy nay hai ta đã

thuận tình hiệp ý, thì xin để một vật chi gọi chúc tòng tin

rồi đình đãi ít ngày sẻ tính cậy lời mai ước:

Đông-Sơ nói rồi liền lấy một chiếc nhẩn, nhận ngọc

oan ương, trao cho Tiểu-thơ, còn Tiễu-thơ cũng cỗi chiếc

ngọc xuyến kim cang, đưa cho Đông-Sơ để làm kỷ-niệm.

Mãng đương trò chuyện, trống đã sang năm, trăng xế đài

tây, nghe đã canh gà dục thúc. Đó rồi hai người từ giã, kẻ

thì gỡi lời trân trọng, rồi phăng phăng buớc tới khuê phòng,

người thì tỏ ý ân cần, rồi cũng vội vã trỡ về lữ-quán.

Hết chương 10

Đọc chương 11 →

Bình luận về truyệnTrang truyện