Giọt máu chung tình

Chương 7: Hồi thứ năm

Khoảng 13 phút đọc · 2.920 chữ · Bôi đen một đoạn để bình luận

HỒI THỨ NĂM

Gởi mật thơ ám kế hại anh hùng

Xin thi vỏ diển trường tranh Tấn-sỉ

Khi Đông-Sơ nạp vở trường văn rồi về nhà thì trời đã

tối. Cơm nước vừa xong, kế Tú-Tài Trần Đạt đến viếng.

Hai người liền dắc tay ra nhà sau chuyện trò đàm đạo.

Trần-Đạt nói: « Hôm nay anh đã vào văn trường rồi,

vậy chẳng biết anh có tính vào diễn trường mà thí vỏ

chăng? »

Đông-Sơ nói: « Hội công danh ai ai cũng muốn, lẻ đâu

tôi dám bỏ qua, còn quới hữu tính lẻ nào, xin nói cho tôi

biết với. »

Trần-Đạt nói: « Tôi vẩn tài còn sơ siễn, sức khó tranh

đua, khoa nầy tôi chịu nhịn thua, đễ khoa khác sẻ ra ứng

thí, cũng chẳng muộn. »

Đông Sơ nói: Hỗm nay quới hữu có đều chi lạ chăng?

Xin nói cho tôi biết với?

Trần-Đạt nói: Không chi lạ hơn là con ma bốn cẳng.

Đông-Sơ nghe nói thì ngó Trần-Đạt và lấy làm lạ rồi

hỏi:? Mà quả thật có ma sao?

— Quã thật như lời thằng Thơ-đồng của anh nó nói

với tôi hôm nọ.

— Mà con ma ấy làm sao? Xin quới-hửu thuật lại cho

tôi nghe thữ?

Trần-Đạt nói: « Đêm hôm qua khi tôi đi ngũ, tôi có để một cây gươm trên đầu giường, rồi tắc đèn lại

nằm, và lóng nghe cho tới canh tư, song tôi không thấy

một chi lạ hết, tôi mới nghĩ thầm rằng: Đó là chuyện

huyễn hoặc, người ta đặt đều đặng nhát mình chơi vậy

thôi, chớ ma đâu có. Đó rồi tôi ngũ cho tới sáng, qua đêm

sau tôi cũng còn hồ nghi, nên khi vô buồng đi ngũ cũng

có để cây gươm trên đầu giường, rồi nằm lẳng lặng

làm thinh, mỡ mặt lóng tai mà nghe coi có chi lạ

không. Xảy nghe trống trỡ canh ba, mà không thấy

chi hết, hai con mắt đã sập mi mơ màng, bổng nghe

một cái sạt, trên rường nhà, tôi dựt mình mỡ mắt

trao tráo và ngóc đầu dậy đặng nghe cho rỏ. Kế nghe

một cái rẹt nữa, nghe rỏ thì là dơi đáp muổi nó bay, đó

rồi tôi cũng nằm lẳng lặng hàm thinh một hồi lâu, thoạt

nghe bên vách kia có tiếng rọc rạch, té ra rỏ lại thì chuộc

chạy dơi bay, mà nó làm cho tôi hồ nghi không ngũ đặng.

Đó tôi nằm lại một hồi mới vừa thiễu thiễu, thoạt nghe

tiếng cục kịch nơi cữa buồng, tôi lật đật ngóc cổ dậy dòm,

thì thấy một bóng đen thui, thắp thoán qua cữa, tôi nói

thầm rằng phen nầy chắc nó. Kế đó cái bàn nhỏ trên đầu

dường tôi thinh không ngã xuống; thì tôi thấy bóng con

quái ấy xốc lại dường như muốn chụp tôi, tức thì tôi

nhãy xuống dường rồi huơi gươm chém xuống một cái rất

mạnh, làm cho cây gươm lút vào trong vách, thì thấy con

quái ấy tràng qua phía dường tôi, rồi mất.

Tôi liền nhảy lại chận ngang cữa buồng, một tay nắm

cánh cữa, một tay cầm gươm mà thũ, sợ con quái ấy

thoát ra. Đó tôi la lên: Bớ người ta, ma, ma, xin đến

tiếp cứu.

Mấy người ở gần nghe la thì chạy lại, kẻ cầm hèo người

xách gập, đứng lấp ló nơi cữa, mà chẳng dám vô,

tôi lại la lên rằng: Tôi đã chận đặng nó đây, hảy đem

đèn vô, cho kíp.

Mấy người liền đem đèn vô, rồi hỏi: Nó đâu, nó đâu?

Tôi nói: Nó đây, nó đây, họ bèn đem đèn lại rọi vào

buồng, thì không thấy chi hết. Tôi nỗi nóng nhảy lại lấy

đèn rọi dưới giường, cũng chẳng thấy chi. Tôi bèn rọi dựa cái tủ đễ nơi dưới góc giường, thì thấy một đống đen thui

hai mắt ngó lườm lườm, hơi thở khò khè, nhăn răn trắng

nhẻ. Tôi liền la lên, nó đây, nó đây, mấy người đem đèn

rọi coi, thì thấy rỏ ràng một con chó mực đương ngồi xo

rỏ. Ai nấy ngó nhau chưng hững, rồi cười ngất một hồi.

Còn tôi thì bị thức trọn hai đêm, mắt đổ hào-quang, nghĩ

cũng tức cười, mà cười không ra tiếng. »

(Vậy tôi xin phê dưới đây ít hàng cho khán quan xem

chơi giãi muộn).

Khi đương tối tâm sớ sết, thì tưởng chó là ma; chừng

xem tường tận rỏ ràng, mới biếi ma là chó.

Khẳn khái bấy tên Tú-tài huơi quyền mà dụng vỏ; giận

đổ thần hung.

Tội nghiệp thay con chó mực, bị đánh đã kinh hồn, sợ

ngồi cú rủ.

Té ra trót đêm chẳng ngũ, anh Tú kia khũn khĩn nghĩ

cười thầm.

Ôi thôi! Nhắm thế không xong, con chó nọ nguýt đuôi

rồi khự mất.

Trần-Đạt nói rồi ngước mặt cười hà hà, Đông-Sơ

thấy vậy cũng tức cười nôn ruột. Đó rồi hai người dắc

nhau ra trước Thơ-phòng. Đông-Sơ liếc mắt bỗng

thấy một cái thơ, đễ trên bàn và một ngọn dao cấm

lũng ngang phong thơ, lúc tuốc xuống ván, thì sửng sờ và

lấy làm một sự quái gỡ. Liền bước lại xem phong thơ ấy,

thấy ngoài bao đề « Vỏ-đông-Sơ khai khán » tức thì lấy

thơ xé ra coi, coi rồi sắc mặt liền đỗi.

Trần-Đạt thấy vậy bước lại và hỏi: Chẳng biết thơ ấy có

sự chi lạ chăng! mà sao tôi xem anh dường có sắc kinh

nghi tràng ra nét mặt ? »

Đông-Sơ thấy hỏi thì trao thơ ấy cho Trần-Đạt xem,

trong thơ nói như vầy:

« Vỏ-đông-Sơ, ta nói cho ngươi biết rằng: khoa Tấn-Sỉ

nầy ngươi phải nhượng lại cho ta, thì ta chẳng nhửng

cám ơn, mà lại còn trọng đáp. Bằng không, thì trước

khi tới diển-trường, ngươi sẻ như cái thơ với cây đao

nầy vậy. Chừng ấy ta e cho ngươi ăn năn đả muộn.

Xem thơ rồi 2 người ngó nhau sững sờ, dường như

sấm nỗ vang tai, đất bằng dậy sóng.

Trần-Đạt hỏi: vậy mà trong ý anh có biết chắc ai gởi

thơ nầy không?

Đông-Sơ nói: tôi chẳng quen với ai, và củng chẳng biết ai

hết, song theo ý tôi tưởng, cái thơ nầy là như một cái hình

giả kia, đễ nhác chim sẻ sẻ đó thôi. Còn tôi thì chẳng hề

nhượng khoa nầy cho ai cả, thà tới diễn-ìrường, tranh tài

đấu lực, chừng đó đắt thất sẻ hay, lẻ đâu vì một lá thơ

nầy, mà làm cho lòng công danh bãn lãng.

Trần-Đạt nói: song anh cũng phãi cẩn thận đề phòng,

những đều bất trắc.

Đông-Sơ gặt đầu và nói; phãi, nhưng cái thơ rơi đó là

một sự dọa hẩm của kẻ tiểu nhơn, chớ chẳng phãi người

anh hùng khí phách, xin quới-hữu chớ nhọc lòng nghi

ngại. Đó rồi Trần-Đạt từ giả trở về; Đông-Sơ vào phòng

còn nằm suy nghĩ, xảy nghe ngoài cửa có tiếng cục kịch,

kế nghe một tiếng dường như vật chi rớt xuống đất vậy.

Đông-Sơ lật đật đem đèn ra coi, thì thấy một phong thơ

rớt nằm dựa cửa, liền buớc lại lượm lên rồi dở ra coi thì

thấy trong thơ nói như vầy:

« Kính vài lời cùng quan-nhơn rỏ: truớc khi ra diễn-tràng, đi ngan qua một cây đại thọ dựa ngả ba đường,

thì xin phãi đề phòng cẩn thận, vì chỗ đó sẽ có người

tàng ẩn mà ám hại quan-nhơn, chẳng nên sơ thất mà

mang họa.

Đông-Sơ xem rồi nghỉ nghị trong trí một hồi mà cũng

không hiểu thơ ấy của ai, thật là một đều rất lạ, rồi tầm

tư tự nghỉ rằng: lạ thay! như cái thơ trước là thơ hâm

dọa người nên không ký tên cũng phãi, chí như thơ nầy

là thơ ơn, song chẳng rỏ cớ nào mà không ký tên, cũng

một đều rất quái. Hai cái thơ ấy làm cho Đông-Sơ, trót

đêm bối rối trí khôn, đứng nghĩ ngồi suy, nằm chẳng an

nơi, ngủ không ngon giấc.

Bổng nghe Đông-Thành văn vẳn trống đã sang tư, gương

thỏ bóng tà, inh ỏi canh gà dục thúc. Đông-Sơ bèn thức

dậy trà nước rồi, sắm sửa y cân, thì Thơ-Đồng đã thắng

ngựa gát yên, đứng chờ trước ngỏ. Đông-Sơ nai nịt xong rồi,

bèn giục ngựa lên đường, nhắm diễn-trường thẳng tới. Còn

Thơ-Đồng và Trần-Dạt cũng thĩnh thoãn nối gót theo sau.

Khi Đông-Sơ đi đặng một đổi, gần tới ngã ba, liết thấy

phía trước xa xa, có một tàng đại-thọ rất lớn, thì nhớ

trong cái thơ sau có dặn rằng hể tới đây thì phãi đề phòng

cẩn thận. Vì vậy nên Đông-Sơ rúc gươm cầm nơi tay, rồi

dục ngựa chạy mau, còn mắt thì nhắm trước xem sau,

thấy hai bên đường bụi cao bụi thấp, trong lúc bóng trăng

nhắp nhán, cây cỏ lờ mờ, dặm quang sang, bương bã bước

anh hùng; cương tuấn mã xông pha đường lữ khánh. Kế

đó thình lình bổng nghe một cái rẹt, thì thấy trước mặt đã

xẹt ra một mũi tên, phăn phăn thẳng tới, Đông-Sơ liền né

qua, thì mủi têng ấy bay xớt bên tai, rồi đi tuốc. Têng nọ

vừa qua, kế một mủi têng nữa bay tới. Đông-Sơ liền lấy

gươm gạt một cái, têng ấy rớt ngay xuống đất. Đó rồi Đông-Sơ quất ngựa chạy tuốc ra diển-truờng. Chạy đặng một

đổi xa xa, thì trời đã rạng đông, ác vừa lộ bóng.

Đông-Sơ liền gò cương dừng ngựa, rảo mắt ngó quanh,

Bổng thấy bên thành, cỏ cây lúp xúp, người ngựa lao xao,

chín giữa có một đài cao trước mái cậm một cây long-kỳ

gió bay phưỡng phất, hai bên giáo gươm la liệc, quân-ngủ

sấp hàng, ấy là một chỗ diển trường, xem rất nghiêm trang

tề chĩnh. Kế nghe trống chiên inh ỏi, gióng đủ ba hồi, thì

thấy ba vị đại-thần, cỡi ngựa bước ra, rồi lên diển-trường

mà ngồi, xem rất oai-nghi lẩm liệt, đó là ba vị giám-khảo.

Còn chung quanh diển-trường, nào là nho-sĩ, nào là vỏ-sanh kẻ ở thị-thành, người trong thôn-lý dắc nhau náo

nức đến xem đứng đã chậc đường, đông dường nhóm chợ.

Xảy thấy phía Nam thoạt ra một người cởi ngựa hồng-lô, tướng mạo khôi ngô, y cân tề chĩnh, dục ngựa thẳng

ra trước diễn trường, rồi một tay gò cương, một tay chống

nạnh, đứng cách kiêu hảnh nghiêm trang, rồi rảo lại đi

qua, xem rất xuê xang oai vỏ.

(Liệc vị khám-quan xem tới đây thế cũng ấm ức trông mong, mà coi người cỡi ngựa hồng-lô nầy là ai cho biết.

Nhưng mà người nầy chẳng lạ, vốn tôi đã nói ló một sự

tích xáng qua trong khoãn trước đây, song tôi còn núp ngòi

bút mà ẩn danh, làm cho liệc-vị khán quan nhọc lòng trông

đợi chơi trong một giây phúc. Vậy tôi xin dẹp cái diễn-trường lại đó một chút, đặng chĩ người cởi ngựa hồng-lô nầy cho khán-quan rỏ trước.)

Nguyên người nầy tên là Bạch-xuân-Phương vẩn là con

của một vị Binh-hộ Thượng-thơ ở tại Tây-viên là anh ruột

của một vị Tiễu-thơ Bạch-thu-Hà, tôi đã nói trong hồi truớc.

Nguyên cách hai ngày trước, Bạch-xuân-Phương nghe

Vỏ-đông-Sơ ra tranh Vỏ-khoa Tấn-sĩ, thì kêu một tên bộ-hạ tâm phút là Hồ-Hợi, vào thơ-phòng mà dặn rằng:

« Nội đêm nay ngươi phải ra núp tại ngã ba cây đại-thọ,

đặng chờ Đông-Sơ đi ngang qua mà giết cho được, trước

khi nó tới diễn-trường, chẳng nên sơ thất. » Chẳng dè tiễu-thơ Bạch-thu-Hà đứng sau bình-phong lóng tai nghe, biết

anh mình thiết kế mà ám hại Đông-Sơ, đặng tranh khoa

tấn-sĩ, thì lật đật trỡ lại tư-phòng, rồi thầm lo trộm nghĩ

rằng:

« Vả Đông-Sơ là người đã thi ân cứu mạng của mình

trong lúc gặp thằng cường bạo tại Quan-âm-Cát, và lại là

một người hào ba phong nhả, đáng mặt thiên tài, nếu

tạ thị bàng quang, mà điềm nhiên đi, thì chẳng những

mình là ra kẽ vô tình, đễ cho anh mình hại một vị anh-hùng tuấn-kiệt, thì lòng nầy sao nở.

Tiểu-thơ nghĩ như vậy. liền lại văn-phòng viết một cái

tư-thơ, rồi sai con thễ-nữ tâm phúc, biễu đem thơ ấy lập

tức bỏ tại trước cữa Đông-Sơ, đặng cứu người cho khỏi

lâm đại họa. Song không cho Đông-Sơ biết mình là ai.

Nên không ký tên thơ ấy. Vì vậy nên Đông-Sơ mới khỏi

lâm cái mũi tên độc thủ trong lúc tâm tối giữa đường.

Còn anh Bạch-thu-Hà là Xuân-Phương chắc là Đông-Sơ

thế nào cũng chẳng thoát khỏi mũi têng kia ghiêm vào gan

ruột, nên khi cỡi ngựa tới diễn-trường, thì coi bộ hiu hiu

tự đắc.

(Tới đây xin tiếp luôn theo khoản trên đã nói khi nảy).

Trong lúc Bạch-xuân-Phương đứng trước diển tràng

rão mắt ngó 4 phía, bỗng thấy Vỏ-đông-Sơ cởi ngựa đứng

phía bên kia, thì sẫu ruột nhăn mày sững sờ và lấy làm

lạ, chẳng dè Đông-Sơ thoát khỏi cái độc kế mà tới

đặng diển-trường! Kế nghe trên diễn-đài một vị giám quan

kêu tên Bạch-xuân-Phương vào trường ứng thí.

Bạch-xuân-Phương lật đật bước tới cúi đầu thi lễ rồi lấy

cung têng cởi ngựa chạy một vòng, nhắm kim-tiền mà bắn,

bắn 2 mủi đầu đều lọt vào lỗ kim-tiền, còn mũi thứ 3 thì

trúng ngoài vành mà thôi, không vô lỗ đặng.

Kế tới phiên Đông-Sơ cũng cởi ngựa chạy một vòng, rồi

dương cung ráp tên nhắm kim-tiền, xạ luôn 3 mủi đều

vô lổ hết. Các người coi đều khen hay.

Đông-Sơ quày ngựa lại trước diễn trường cúi đầu, rồi

trở ra một bên mà đứng. Xãy thấy Xuân-Phương cởi ngựa

ra thưa với 3 vị Giám-khảo rằng: « Đông-Sơ chẳng phải

giỏi. ấy là may mà trúng đó thôi. Như Đông-Sơ thiệt tài,

thì tôi xin thí vỏ, chừng ấy mới biết sức hơn thua, và biết

tài cao thấp. »

Ba vị chủ khảo thấy Xuân-Phương kêu nài, thì hạ lịnh

cho, nhưng không dùng gươm giáo thiệt, e rũi thương

nhằm tánh mạng, phải dùng trường côn vấn giẻ hai đầu

mà thôi; đó rồi truyền quân sắm sữa hai cây, cân phân

bằng nhau, đễ trước diển-trường cho hai người lựa chọn.

Đông-Sơ nhường cho Xuân-Phương lấy trước, rồi Đông-Sơ lấy sau. Bỗng nghe trên đài dục trống ba hồi, vừa dức

thì 2 người mới ra tay thũ đoạn.

Nguyên Bạch-xuân-Phương bộ tướng gình-giàn, vóc

hình cao lớn, còn Đông-Sơ thì nhỏ hơn vài phân, ước một

mười với một tám vậy. Vì vậy nên Xuân-Phương chắc ý,

thế nào cũng thắng đặng Đông-Sơ, khoa Tấn-Sĩ nầy sẻ vào

tay mình chớ ai dám vô mà tranh đặng. Còn hai bên diễn-trường thấy Xuân-Phương sức lực mạnh mẻ bộ tướng dềnh

dàng, thì ai ai cũng nghi sợ cho Đông-Sơ không bề thắng nỗi.

Khi hai người thũ 2 ngọn trường côn rồi xáp lại, kẻ

đánh người đâm, kẻ gạt người đở, xem thấy hai ngọn

trường côn qua lại liền vo, tới lui vùng vục, làm cho cát giậy bụi bay xung xăng, mù mịt như khói. Đánh nhau một

hồi như lưỡng hỗ hạ san, dường giao long xuất hải, làm

cho hai bên diển-tường, ai ai đều lẵng lặng làm thinh, mắt

ngó châm châm xem thôi sững sốt.

Kế đó Đông-Sơ quày ngựa nhảy ra, thì Xuân-Phương đỗi

qua miếng Phi-tiên, hai tay nắm đầu roi trường côn, vục

vục như chóng chóng, chơn thì giục ngựa xốc tới, coi thế

dữ dằng. Còn Đông-Sơ thì rão ngựa chạy quanh, như gà

kia xỏ lá.

Xuân-Phương cứ huơi côn vục vục xốc tới, thiên-hạ ai

ai cũng chắc lưỡi lắc đầu, sợ cho Đông-Sơ sức yếu tài sơ

mà cự địch không nỗi. Chẳng dè Đông-Sơ thình-lình quày

ngựa lại lẹ làng, rồi huơi côn bắt ngọn roi của Xuân-Phương

một cái rất mạnh, đến đổi ngọn roi của Xuân-Phương đương

vục vục như giông, bỗng chúc văng ra xa hơn 4 trượng,

làm cho Xuân-Phương và ngựa đều day ngan như bườm

kia bị gió thổi mạnh đứt lèo, làm cho ghe day theo mà

muốn lật đi vậy, rồi mắt đỗ hào quang cã và tay chơn đều

rúng động.

Đông-Sơ thừa diệp ấy, hai chơn nhảy đứng trên lưng

ngựa mình, rồi đạp một cái nhảy phóc qua hất Xuân-Phương một roi, té nhào xuống đất, ngó lại thì Đông-Sơ đã ngồi trơ trơ trên ngựa Hồng-lô, nhởn-nhởn

nhơ-nhơ, hình như Tiết-nhơn-Quí ở nơi Sơn-đông, cởi

ngựa Huỳnh-phiêu, dường như Lữ-phụng-Tiên đứng trước

Viên-môn, tay gò Xích-thố. Cả thãy hai bên diễn-trường

đều la lớn lên một tiếng hay, hay, như sấm dậy vang tai,

rồi rần rần vỗ tay bốp bốp như pháo nỗ. Miếng nầy gọi

là « Đại bàn phi thạch động, Sư-tữ thượng lầu đài. » Đó

rồi Đông-Sơ cởi ngựa thẳng tới trước diễn trường cúi đầu

mà từ tạ.

Còn Bạch-xuân-Phương bị té một cái, làm cho trật mũ

rớt khăn, rồi xẻn-lẽn ra về, như Tào-a-Man thất trận.

Hết chương 7

Đọc chương 8 →

Bình luận về truyệnTrang truyện