XXVIII
Sổ tù các khám đường
Nói về việc thầy tu đi dọ tin tức tại quán Ga-kiều rồi thì qua ngày thứ có một người tác chừng 31, 32 tuỗi, y phục và giọng nói chẳng khác nào người Hồng-mao, vào dinh quan Đốc-lý thành phố Mạt-xây mà nói rằng:
— Thưa ông, tôi vẩn là người tài phú hãng buôn hiệu Tôm-xông và Phú-lãng công-ty ở Rô-ma. Hơn mười năm nay hãng tôi giao diệt với hãng Mo-ren phụ-tữ ở Mạt-xây. Số là hãng Mo-ren phụ-tữ thiếu hãng tôi hơn 10 muôn, mà nay tuy thiên hạ đồn rằng hảng ấy suy sụp, song hãng tôi hởi còn vững lòng, không sợ mất cũa ấy đâu. Nhưng mà chũ tôi muốn cho rõ âm hao, nên sai tôi qua đây hỏi thăm ông đặng tường áo lới.
— Ta biết hơn bốn năm năm nay hãng Mo-ren phụ-tữ chịu nhiều đều tai họa, dường như thời vận muốn ngữa nghiên, chẳng những là đã bị chìm hết 4, 5 chiếc tàu mà hởi còn bị ba bốn cuộc khánh tận gian nó làm cho hãng ấy xính vính. Tuy là hãng nầy có thiếu ta một muôn ngoài quan tiền, song ta không biết được tài sản còn nhiều ít thể nào. Nếu túc-hạ muốn hỏi thăm tánh hạnh ông Mo-ren ra làm sao, thì phận ta làm đầu trong thành sẻ nói được cho túc-hạ rỏ. Vẩn ông Mo-ren là một người rất chơn chánh, tự thuở nay hể giao với ai thì chữ thũ tín làm đầu. Còn như túc-hạ muốn hỏi nhiều việc khác thì ta khuyên túc-hạ nên đến thăm ông đờ Bô-huynh là quan Thanh-tra các khám đường, thì chắc sẻ rỏ được, vì hãng Mo-ren có mắc ông ấy hơn 20 muôn quan, có lẻ ông ấy tường tận việc nhà ông Mo-ren hơn ta.
Nhà ông ấy ở đường Noay môn bài số 15.
Người tài phú hồng-mao nghe quan Đốc-lý nói vậy thì có ý khâm phục lòng cao nhả ngài biết thương người chơn chánh, bèn từ biệt mà lui chơn, đi thẳng đến đường Noay.
Khi kiếm nhà được và trao thiếp danh rồi thì quan Thanh-tra cho vào. Tài phú hồng-mao bước vô văn phòng chợt thấy quan Thanh-tra bèn giực mình (đây chắc khi trước tài phú hồng-mao nầy có gặp mặt ngài một khi chăng). Còn ông đờ Bô-huynh thì mắc rầu việc mất cũa mà không vụ đến việc quá khứ vị lai gì.
Tài phú hồng-mao chào xá rồi bèn hỏi thăm việc lợi hại hãng Mo-ren thì ông đờ Bô-huynh nói rằng:
— Túc-hạ mà nghi tâm như vậy cũng là phải lắm. Ta đây bị khốn mà thất tình cũng về hãng ấy. Tiền bạc cũa ta góp nhóp hơn 20 muôn, để phòng sau có gả con ta lấy chồng đặng bù cũa về nhà chồng, ta thày lay tin hãng ấy chắc chắn, bèn đem 20 muôn ấy mà cho hãng Mo ren vay lấy lời. Trong 15 bữa nữa thì ta gả con ta lấy chồng. Trong tờ hãng Mo-ren làm cho ta có giao 15 tháng nầy phải trả 10 muôn, còn 10 muôn thì 15 tháng sau phải trả tất. Ông Mo-ren khi được thơ ta thúc bạc mới đến đây hồi nãy mà nói rằng: Nếu tới 15 tháng nầy mà tàu Pha-ra-ông cũa ỗng không về, thì chẳng biết sao thối huờn cũa ấy lại đặng.
— Dạ, thưa ông, như thế thì tôi tưởng ông Mo-ren có ý xin kỳ hẹn đó thôi.
— Túc-hạ nghỉ vậy lầm xa, chớ ta tưởng cuộc nầy là cuộc khánh tận, bề gì cũa ta phải mất mà thôi.
— Té ra ông sợ mất cũa ấy hay sao?
— Phải, ta chĩ sợ bao nhiêu đó.
— Vậy thì ông nên bán cái giấy nợ đó cho tôi.
— Túc-hạ muốn mua hay sao?
— Dạ, tôi muốn mua.
— Mà mua hạ giá phải không?
— Dạ, hảng tôi không ưa dục lợi như thế, cũa ông hai chục muôn, tôi đành mua hai chục muôn thế.
— Túc-hạ mua mặt, hay là mua chịu?
— Dạ, tôi mua mặt.
Tài-phú hồng-mao nói rồi, liền rút túi lấy ra một bó giấy bạc có hơn 40 muôn quan.
Ông đờ Bô-huynh trong lòng mừng quýnh song ngoài mặt gượng làm tỉnh mà nói rằng:
— Ta phải cho túc-hạ hay trước, thì sau túc-hạ không trách ta được, là 20 muôn túc-hạ mua đó, thì chắc túc-hạ lấy lại không được tới 2 ngàn.
— Việc ấy chẳng can chi đến tôi, có lỗ thì hảng Tom-xông và Phú-lảng công-ty chịu lấy, vì tôi mua đây là mua cho hảng ấy, chớ không phải mua cho tôi. Có lẻ khi hảng Tom-xông và Phú-lảng công-ty muốn hại hãng Mo-ren sập cho mau, không chừng. Song về phần tôi thì ông phải thưởng tôi tiền huê hồng.
— Phải vậy chớ. Thường lề họ cho huê hồng 1 phân rưởi, song túc-hạ muốn 5 phân, 7 phân gì thì xin hãy nói ra.
— Dạ, thưa ông, tôi cũng như hảng tôi, không ưa dục lợi như vậy, huê hồng tôi xin ông đó thì khác hơn huê hồng thường lề.
— Vậy thì túc-hạ hãy nói ra.
— Ông phải là làm quan thanh tra các khám đường chăng?
— Ta vẩn làm chức ấy đã đặng 14 năm nay.
— Ông có sổ biên các tù tội vô ra các khám phải chăng?
— Phải.
— Sỗ ấy mỗi tên tù tội đều có biên gạnh tánh hạnh phải chăng?
— Phải, mỗi tên tù tội đều có tánh hạnh biên riêng.
— Dạ, thưa ông, số là khi tôi còn thơ ấu, cha mẹ tôi gởi tôi cho một ông Cao-tăng ở Rô-ma dạy dỗ. Thình lình ngày kia ông Cao-tăng đi đâu mất biệt tích. Sau tôi khôn lớn hỏi thăm thì họ nói ông Cao-tăng bị biệt giam nơi Đại-thiên-lao ngoài cù-lao If. Nên tôi muốn biết tin tức và tánh mạng ỗng nay ra thể nào.
— Cao-tăng ấy tên chi?
— Dạ, tên là Pha-ri-a.
— Có, ta còn nhớ, Cao-tăng vẩn là người điên cuồn.
— Dạ, tôi cũng nghe họ nói vậy.
— Thiệt là điên.
— Có lẻ điên, mà không rỏ ỗng điên về đâu.
— Cao-tăng cứ nói biết một hầm vàng, hằng dâng cho Chánh-phủ nhiều triệu bạc đặng xin tha tù.
— Cha chả là tội nghiệp, không biết ỗng chết sống thể nào?
— Ổng chết rồi, hồi tháng février rồi đây.
— Cha chả, sao ông nhớ ngày tháng giỏi vậy?
— Ta nhớ được ngày tháng Cao-tăng chết, là vì bởi dịp ấy mà trong khám có xãy ra một chuyện lạ.
— Chuyện chi lạ ha ông?
— Số là khám Cao-tăng bị biệt giam đó, cách xa khám một đứa theo phe Na-bô-lê-ông chừng vài chục thước, tên tù ấy là tù ngổ, nó đã tận tâm giúp Na-bô-lê-ông thâm nhập Pháp-địa trong năm 1815, nên trong khám hay cho nó là tù dữ, phải coi chừng.
— Vậy sao?
— Phải, thiệt vậy, vì trong năm 1816, 1817 gì đó ta có đến khám nó mà hỏi thăm tra gạn. Khi ấy quan Tổng-trấn Đại-thiên-lao có cho lính theo hộ vệ ta. Từ khi ta thấy mặt nó cho đến nay, ta chẳng hề khi nào quên đâu.
Tài-phú hồng-mao nghe nói vậy mĩn cười rồi hỏi rằng:
— Hồi nãy ông nói hai khám ấy lân cận nhau, rồi sao?..
— Khám Cao-tăng cách khám Ết-mông Đăn-tết chừng vài chục thước mà Đăn-tết là một tay khẳng khái.
— Ông nói tên tù dữ ấy tánh danh là...
— Là Ết-mông Đăn-tết, nó ở trong khám tiềm tâm sắm khí nghệ, vì ngục-tốt tìm được một cái hang đào dưới đất đặng hai khám thông hành qua lại với nhau.
— Có lẻ nó đào hang ấy đặng mà vượt ngục chăng?
— Phải, song rủi cho chúng nó, là Cao-tăng mang bệnh toàn thân bất toại mà thác,
— Nếu vậy thì Ết-mông Đăn-tết không trông vượt ngục đặng.
— Phải vậy đâu. Đăn-tết nó thừa cơ hội ông già Cao-tăng chết mà lập một kế trốn rất mầu, là nó tưởng hể tù tại Đại-thiên-lao có chết, thì ngục-tốt đem chôn nơi thổ mộ, nên nó đem xác Cao-tăng về để trong khám nó, rồi nó qua khám Cao-tăng chun vào bao mà may miệng lại nằm đó.
— Kế ấy rất lộng hiếm, thiệt Đăn-tết rất có cang đảm phải chơi đâu.
— Ta nói với túc-hạ hồi nãy rằng Đăn-tết là tù dữ, đáng sợ, song trời bất dung gian giảo tự, nhiên nó hại nó, làm cho Chánh-phủ bớt lo một nổi.
— Sao vậy?
— Túc-hạ chưa hiểu sao?
— Dạ, chưa hiễu vì sao.
— Số là tại Đại-thiên-lao không có thỗ-mộ, hể tù tội chết thì lấy bao bó lại, cột dưới chưn một cụt sắt to cân nỗi 36 cân mà quăng ngay xuống biễn thê.
— Dạ, rồi sao?
— Thì ngục-tốt khiêng Đăn-tết lên mặt đất, tưởng là xác Cao-tăng, lấy sắt dòng chưn mà quăng xuống biển chớ sao.
— Vậy sao?
— Phải, vậy đa, khi ấy ta muốn thấy cái bản mặt thằng Đăn-tết, bề gì nó cũng hoãng kinh.
— Khó mà thấy được cái cảnh ấy.
— Tuy khó vậy mà ta tưởng tượng cũng đủ rồi. (Và nói và cười xòa).
— Tôi cũng tưởng tượng như ông vậy. (Rồi khách cũng cười xòa như chủ nhà).
— Té vậy thì Đăn-tết đã chết ngột rồi chớ gì?
— Chết tươi, không kịp trối trăn gì hết.
— Như thế thì Đại-thiên-lao hết lo tù điên mà cũng hết sợ tù dữ, cả hai đều chết ráo.
— Phải, túc-hạ nói nhằm.
— Khi hai tên tù ấy chết, trong Đại-thiên-lao có ghi chép sự tích chớ?
— Phải, đặng phòng cha mẹ thân tộc có hỏi thăm mà nói cho rành.
— Như vậy thì cha mẹ bà con của Đăn-tết ăn gia tài nó được, không ai có phép ngăn cản, phải chăng?
— Ăn được, nếu họ muốn xin giấy chứng, ta sẻ cho.
— Thôi, vậy hay vậy, ta nên nói qua việc sổ tù tội.
— Nãy giờ mắc nói chuyện Đăn-tết mà quên lững, xin túc-hạ chớ phiền.
— Có phiền gì đâu, chuyện nghe hay quá.
— Thiệt là hay. Mà túc-hạ muốn biết sự tích Cao-tăng là người tuy điên mà hiền như bụt, phải không?
— Dạ, tôi muốn biết sự tích Cao-tăng lắm.
— Vậy thì túc-hạ hãy theo ta qua phòng điển bộ, ta sẻ chỉ cho mà xem.
— Tài phú hồng-mao liền theo ông đờ Bô-huynh qua phòng điển-bộ.
Tài phú hồng-mao thấy sỗ bộ đâu đó đều có thứ lớp. Ông đờ Bô-huynh lấy sổ tù Đại-thiên-lao giao cho tài phú hồng-mao ngồi lật kiếm, còn ngài thì lấy nhựt báo đọc mà chờ.
Tài phú hồng-mao liền lật kiếm một hồi thấy tên Cao-tăng, đoạn lật tới nữa đặng kiếm tên Ết-mông Đăn-tết, thì thấy rỏ ràng các việc đâu đó đều sấp có lốp lang thứ tự, những là thơ rơi đầu cáo Đăn-tết, tờ tra hạch cũa quan phó Biện-lý hỏi Đăn-tết, đơn cũa ông Mo-ren kêu oan cho Đăn-tết có chữ ông đờ Huynh-pho gạnh một bên, tài phú hồng-mao bèn lấy cái thơ rơi xếp làm tư mà bỏ vào túi, rồi đọc tờ tra hạch cũa quan phó Biện-lý thì chã thấy nói đến tên ông Noạt-chê, đọc đến đơn kêu oan cũa ông Mo-ren thì thấy trong ấy ông Mo-ren nghe lời quan phó Biện-lý nói rỏ Đăn-tết là người có công với Na-bô-lê-ông, quan phó Biện-lý cũng chứng chắc như rứa, là vì khi ấy Na-bô-lê-ông đang trị thế, thấy vậy rồi thì cậu ta mới rỏ nỗi đục trong. Đơn ông Mo-ren làm đặng gỡi cho Na-bô-lê-ông mà kêu oan cho Đăn-tết, sao ông đờ Huynh-pho lại yêm ẩn lại đó, để làm bằng cớ, hầu sau qua đời Tôn-thất Buộc-bông phục nghiệp, dể giết Đăn-tết như trở tay. Bởi ấy khi va lật tới tên Ết-mông Đăn-tết, thì liền hiểu vì cớ nào mà có gạnh hai câu ngan bên hữu và dưới có thêm một câu nữa mà tuồng chữ khác như vầy:
Phãi biệt giam nó và quãng thúc cho lắm.
Vì trên đã nói như vậy thì: vô kế khã thi. Tài phú hồng-mao bèn lấy tuồng chữ gạnh bên đơn kêu oan cũa ông Mo-ren mà sánh với tuồng chữ gạnh trong số tù ngan tên Đăn-tết thì thấy hai tuồng chữ giống nhau, còn câu đề dưới tên Ết-mông Đăn-tết đó, thì va hiểu rằng chắc đây có quan thanh tra nào đi tra gạn trong Đại-thiên-lao, thấy Ết-mông Đăn-tết vậy thương muốn ra tay tế độ mà ngặt thấy mấy hàng gạnh trên, nên thúc thũ mà để như rứa.
Ta đã nói lúc trên đây rằng ông đờ Bô-huynh muốn để cho học trò Cao-tăng kiếm tìm thông thả, nên ngài mới lấy nhựt trình hiệu Bạch-kỳ-báo mà đọc đặng chờ, cho nên hồi tài phú hồng-mao lấy thơ rơi cũa Đăng-lạc viết tại vườn Phần-hờ mà cáo Đăn-tết, có con dấu nhà thơ đóng ngày 27 Février, trúc thùng hồi 6 giờ chiều, mà bỏ vào túi, thì ngài không thấy. Vã lại dầu ngài có thấy đi nữa, chắc ngài cũng làm lãng, vì nếu cản đản thì sợ mất 20 muôn quan tiền đi chăng.
Tài phú hồng-mao coi rỏ các việc rồi liền xếp sách lại mà nói lớn rằng:
— Dạ, thưa ông tôi coi rồi, tôi rất cám ơn ông. Nay đến phiên tôi phải thủ tín: Ấy vậy ông hãy lấy cái tờ vay 20 muôn quan cũa ông Mo-ren làm cho ông đó, đặng gạnh đàng sau lưng rằng ông nhượng giấy nợ ấy cho tôi mà đã lấy 20 muôn quan rồi, đặng tôi xĩa bạc cho ông.
Ông đờ Bô-huynh lại ngồi bàn viết, lấy bút gạnh sau lưng giấy nợ, còn tài phú thì đang đếm giấy bạc.