Giọt máu chung tình

Chương 29: Hồi thứ hai mươi bảy

Khoảng 18 phút đọc · 3.932 chữ · Bôi đen một đoạn để bình luận

HỒI THỨ HAI MƯƠI BẢY

Đền nợ nước anh hùng ra tữ trận,

Trọn ân tình, liệc nữ quyết liều thân.

Vừng ô thấm thoát phúc lặng đài tây, gươm nguyệt

lấp lòa đã treo bóng thỏ, đoạn Vỏ-đông-Sơ cùng Thu-Hà

đương ngồi trước Hoa-viên đàm đạo, bỗng thấy một tên

Ngự-lâm-quân, ngoài cữa vội vã bước vô, cúi đầu chào

Đông-Sơ và nói: Bẫm Đô-Húy, có thánh chỉ dạy đòi, về

việc binh tình cẫn cấp.

Đông-Sơ nghe nói liền bước lại tiếp lấy thánh chỉ đọc

coi, thì thấy nói như vầy:

« Nay nhơn Thanh-Triều ỷ thế, nước mạnh binh nhiều,

muốn xâm phạt lấn lước nước ta, vì vậy nên trẩm phải

ngự giá thân chinh, quyết đánh cùng quân Tàu một trận,

trước là bảo tồn giang-san của tổ quốc, sau là cho quân

mảng châu biết ta là nước có Ái-quốc tinh thần, chẳng

phải một dân tộc chịu đè ép dưới cường quyền, để cho

chúng nó buộc ràng hà khắc như mấy đời trước. Vậy

truyền cho Đông-Sơ đô-húy, lập tức đến tĩnh Lạng-sơn,

đặng quảng xuất các đạo vỏ-lâm-quân, và theo trẩm mà

lảnh chức ngự tiền Hộ-giá. »

Đông-Sơ đọc rồi thì nét mặt có sắc buồn dào, đứng ngó

Thu-Hà một cách sững sờ và nói: Ái-khanh ôi! cũng

tưởng hai ta đã hết cơn ly biệt, đến lúc trùng phùng, đặng

cùng nhau vui cuộc lương duyên, cho toại chí lúc bình

sanh sở nguyện, chẳng dè cái thời điên vận đảo, nó cứ

theo đeo đuổi buộc ràng, hờn thay cuộc thế đa đoan, khiến cho

gặp buổi nước nhà hửu sự, vì vậy nên Triều-đình hạ chĩ,

đòi tôi ra hộ giá Thánh-hoàng, làm cho đôi ta phải rẻ

phụng lìa loan, thì biết chừng nào mới đặng vầy vui giai-ngẩu.

Thu-Hà nghe nói thì động lòng ly biệt, càng thêm xót

dạ ân tình, rồi nghĩ cho nhà nước đương gặp buỗi hoạn

nạn truân chiên, thì gượng gạo lấy lời hơn thua mà tỏ bày

khuyên nhủ, rồi nói:

Lang quân ôi! Hai ta vẩn đương lúc tình nồng nghĩa

mặng, mà thình lình khiến cho én lạc nhàn xa, thì dẩu ai

gan sắt dạ đồng, gặp lúc nầy cũng phải đau lòng đức ruột,

nhưng mà, tôi khuyên mình phải lấy chữ ân làm trước,

rồi sau sẻ nói đến chuyện tình, ân là ân quốc gia thủy

thỗ, tình là tình thân ái vợ chồng, nay nước nhà đương

gặp lúc hữu sự phân vân, và mấy vạn đồng bào ta đương

đậu cật đâu lưng trong cỏi chiến trường, mà xông pha

giữa chốn lằng tên muổi đạn. Vậy thì lang-quân là một

đứng Nam nhi phận sự, lại thọ ơn trước lộc triều đình, thế

phải ra mà đở vạt ngưng thành, lấy một gan đỗm mà bồi

đấp cho quê hương trong cơn nước lữa, đặng gọi rằng

đền đáp cái ơn ngọn rau tất đất cũa Việc-nam cho; tròn

chúc nghĩa vụ của quốc gia thần-tử, tôi cũng ngày đêm khấn

vái, mà cầu chúc lang-quân đặng bình an vô dạng trong

chốn muỗi đạn lằng tên. Ngỏ mau mau mà trở bước

khải hoàng, chừng ấy đôi ta sẻ hiệp mặt phòng lang, và

vui tình nệm gối, thì cũng chẳng muộn.

Đông-Sơ nghe rồi day lại ôm Thu-Hà, hai mặt nhìn

nhau cách thương yêu quyến luyến và nói: ái-khanh ôi;

phận tôi đã đành ra chốn vòng binh mặt trận, thì chi nài

cơn lước đạn xông tên, thương là thương cho ái-khanh

một mình hiu quạnh nơi chốn phòng lang, cực lòng nỗi

ngày trông đêm đợi. Vậy đêm nay là đêm tôi còn ngồi

một bên ái-khanh mà tay ấp má kề, giọng tình câu chuyện,

song ngày mai là ngày đôi ta sẻ chia cái gánh chung tình

nầy ra làm hai, nữa thì tôi ôm ấp đem theo, nữa thì ái-khanh giữ gìn mà cất lại.

Nói rồi kẻ thì vì ơn ly sầu biệt hận, nghĩ mà ruột héo

gan xào, người thì bận nỗi duyên nợ tóc tơ, ngồi mà sững

sờ bất tỉnh.

Kế một luồng gió hiu hiu thỗi tới, làm cho cả hai đều

mê mệt tâm thần, bổng thấy một người y giáp rở ràng,

kim bào ngọc đái, đi với hai tên bộ hạ, ngoài cữa bước

vô, Đông-Sơ lật đật chạy ra thấy quã thiệt cha mình là

Quận công Vỏ-Tánh, thì mừng và hỏi:

Thưa cha, bấy lâu cha đã âm-dương phân cách, sao

nay thình lình mà phụ tữ đặng trùng phùng, vậy xin cha có đều chi dạy bão khuyên răn, thì nói cho con biết, đặng

con vưng lời nghiêm huấn.

Quận-công Vỏ-Tánh nói; bấy lâu cha đã theo miền vân

hạc, mà thong dong nơi cỏi thọ thanh nhàn, nay thấy nước

nhà gặp lúc lữa giặc đao binh, nên cha phải về đây đặng

tỏ cùng con ít lời dặn bảo.

Con ôi! con phải biết con là phận đứng làm trai trong hoàng vỏ, thì phải hết lòng ái quốc ưu quân, lấy máu thịt mà bồi đấp cho xứ sở quê hương, lấy gan đỡm mà trao dồi cái gương trung liệc của nhà ta cho chói sáng, đặng treo ra giữa cỏi Việt-nam, mà tỏ cái nghĩa vụ của đứng nam nhi chí khí.

Con ôi! con hảy noi theo dấu cha mà tận trung báo quốc,

cho rỏ tấm nhiệc thành. Chẳng nên ràng buộc theo đám

nhi nữ thường tình, mà làm cho tiêu ma cái chí khí của

con nhà trung thần hiếu tữ. Con phải lấy giang-san quê

vức mà gánh vát ở đầu vai, phải lấy một phẫm giá nhơn

tài mà đúc rèn lòng thiết thạch, chẳng nên lui một bước

giữa chốn kịch-liệc chiến trường, mà làm nhục cái danh

của con nhà anh-hùng hào kiệt.

Chốn chiến trường ấy là một chổ danh dự rất vinh hiễn

của các đứng anh hùng, thịt tuy nát, xương tuy tang, nhưng

mà cái danh giá thơm tho hảy còn sống ngàn năm trong

vỏ trụ.

Vậy cha khuyên con một lời chót nầy, là con phải lấy một lưởi gươm trung nghỉa mà chống cự với quân Tàu; và nhiễu một giọt máu anh hùng mà rữa hờn cho tổ quốc.

Nói rồi thì quày quả ra đi. Đông-Sơ lật đật chạy theo, vắp chơn té xuống, dực mình tỉnh lại, thì thấy Thu-Hà còn ngồi một bên, bèn đem

sự chiêm bao thuật lại cho Thu-Hà nghe, đó rồi hai người

bịnh rịnh cùng nhau một hồi, kế nghe canh gà dục sáng,

và trống đã điễm năm, dường như tiếng gà nó hòa với

tiếng trống canh, đặng mà thôi thúc hai đàng từ biệt.

Đông-Sơ bèn kêu Triệu-Dỏng và nói: nay gặp lúc binh

đao tranh chiến, Hoàng-thượng người đương trọng dụng

nhơn tài, vậy Triệu-quí-hữu hảy theo tôi mà giúp đở nước nhà, đặng lập chúc công danh với thế. Chẳng nên đễ cho

mai một cái danh giá anh-hùng mà lổi phận nam nhi

trên đường nghĩa vụ.

Triệu-Dõng nói: nếu ân-huynh có lòng dìu dắc, thì em

cũng đành theo mà giúp đở tay chơn, vậy thì mau mau

sắm sữa hành trang, đặng hai ta lên đường cho sớm.

Nói rồi hai người liền bước vô từ giã Thu-Hà và Triệu-Nương, rồi lên ngựa ra đi, còn Thu-Hà với Triệu-Nương

cũng vội vả đưa theo, một đổi xa xa, mới quày chơn trở

lại.

Khi Vỏ-đông-Sơ ra tới Lạng-sơn, vào bái yết Hoàng-thượng rồi tiếng cử Triệu-Dỏng làm chức Thiếu-Húy, kế

đó Hoàng-Thượng Hạ-lịnh truyền cho các đạo binh, đều

kéo tới Nam-quang, và giáp chiến với quân Tàu một trận

rất hoanh hoanh liệc liệc, còn Hoàng-thượng và các vỏ bá

văn ban đều lên trên một tòa núi cao, đặng đồn binh và

khán trận.

Trong khi hai bên giáp chiến đánh nhau từ sớm mai tới

trưa, súng nổ vang rền, tên bay như mưa bất, thây nằm

nhẫy đất, máu chảy đỏ sông, bỗng thấy đạo binh của ta

lần lần yếu thế, còn đạo binh của Mãng-Châu thì áp tới

càng ngày càng sa số hằng hà, đông như kiến cỏ.

Hoàng-thượng đứng trên núi, thấy đạo binh ta ít, thế

chịu không nổi với binh Mãng-Châu, và lại bị bịnh nó lần

lần bọc quanh rồi phủ vây ba mặt, thì nhiếu mày rồi ngó

rảo các hàng vỏ tướng đương đứng xung quanh, và hỏi

rằng: Ai dám lảnh mạng xông ra vòng binh của Mãng-Châu, đặng kêu đạo binh tả dực của ta đến đây mà tiếp

cứu?

Trong các hàng vỏ tướng văn quan nghe hỏi, đều lấy

mắt nhìn nhau, không ai dám ra mà lảnh mạng.

Đông-Sơ thấy vậy liền bước ra khấu đầu phụng mạng

tự quyết xin đi, kế Triệu-Dỏng cũng bước ra xin theo

Đông-Sơ mà trợ lực.

Hoàng thượng thấy hai người tuỗi nhỏ, mà cang đởm

phi thường, thì mừng và dặn rằng: cái trách nhậm nầy

là một trách nhậm rất cẩn yếu hiểm nguy, hai ngươi có

đi, thì phải cho tận tâm kiệt lực.

Đông-Sơ và Triệu-Dỏng liền khấu đầu bái biệt, rồi lập

tức giục ngựa thẳng xông, còn Hoàng-thượng đứng trên

cao ngó ra mặt trận, thấy binh ta tuy sút, nhưng mà

hàng ngủ chĩnh tề, đứng giữa mặt trận rất kịch liệc hung

hăn, mà chịu với quân Tàu hơn hai giờ, không hề thối

lui một bước; Quân Tàu tuy đông mà áp tới không nỗi,

chĩ có đem binh vây phủ ba phía mà thôi.

Hoàng-thượng và các tướng đương đứng ngóng trông

tin tức Vỏ-đông-Sơ, bổng thấy phía tả binh Mảng-châu

thình lình rùng rùng vở tang, kéo nhau mà chạy, thì biết

chắc có binh cứu viện đã tới, kế thấy một người mọp trên

yên ngựa sải tới như bay, cả thảy đều châm chĩ ngó coi,

chừng lại gần thì mới biết là Đông-Sơ, đã thoát khỏi trùng

vây và trở về phục mạng, khi Vỏ-đông-Sơ chạy tới trước

mặt Hoàng-thượng, thì lật đật xuống ngựa gượng gạo

bước vô.

Hoàng-thượng và các quan ngó lại thấy Đông-Sơ mặt

mày xanh lét, máu mủ đầy mình chảy ra nhỏ giọt, ai nấy

đều kinh, song chưa biết bị thương nặng nhẹ thễ nào. Kế

Đông-Sơ bước tới và thở hào hễn và nói ngập ngừng

rằng: muôn, muôn tâu Hoàng-thượng, Triệu, Triệu-Dỏng

chết rồi, đạo binh tả dực, đã đến tiếp cứu và đương xáp

trận với quân Tàu, nên thần hạ về đây phục mạng. Nói rồi

ngước mặt ngó Hoàng-thượng và tung hô lên rằng:

Việt-nam vạn-tuế; Thánh hoàng vạn-tuế, la vừa dức

lời, thì liền ríu ríu ngã xuống bên chưn Hoàng thượng

mà chết.

Hoàng thượng thấy vậy cũng động lòng và rơi lụy, rồi

truyền cho quan Tư-sự biễu coi tẩn liệm Đông-Sơ, quàng

tại Tùng-dinh đặng chờ giặc yên rồi sẻ lo tống táng.

Bữa nọ Thu-Hà đương ngồi trong tư phòng ngóng trông

tin tức Vỏ-đông-Sơ. Bổng đâu hai mí mắt dực lia, và trong

lòng phập phồng hồi hộp. Thu-Hà chẳng biết cớ chi, bèn

bước ra xem hoa cho khuây lảng tâm thần, chẳng dè

thinh không cây kim xoa đương dắc trên đầu, thoạt nhiên

rớt xuống gảy làm hai đoạn, điềm ấy chưa biết lành dử

thế nào, nhưng trong lòng Thu-Hà đã sanh một mối lo

buồn nghi sợ. Kế đó có tên bộ hạ của Đông-Sơ ngoài cữa bước vô bộ coi hơ hải, thấy Thu-Hà liền chạy lại và bẩm

rằng: Bẩm quới nương. Quan Đô-húy Vỏ-đông-Sơ và

quan Thiếu húy Triệu-Dỏng đã bỏ mạng nơi chốn chiến

trường, nên Hoàng-thuợng sai tôi về đây bẩm lại.

Thu-Hà nghe rồi té nhào xuống đất và bất tỉnh. Triệu-nương lật đật chạy lại đở lên, chừng tỉnh lại thì hai

người than khóc môt hồi dầm dề hột lụy, đó rồi chị em

dắc nhau thẳng ra Nam-quang, đặng tìm thi-hài Đông-Sơ và Triệu-Dỏng.

Khi Bạch-thu-Hà với Triệu-nương đi gần tới địa phận

Nam-quang, thì mặt trời đã hầu chen lặng. Xảy thấy một

tòa nhà nhỏ, ẩn ẩn trong đám thanh tùng, tư bề thì núi

non hiu quạnh, cây cỏ lờ mờ, bên rừng lại nghe tiếng

vượn ru con, nĩ non dưới cội, kìa thì mây sầu mịt mịt,

vần vủ trên không; nọ lại gió thãm rao rao phất phơ

ngọn cỏ, đoạn thì vài con bạch nhạn, đương kêu rêu

thơ thẫn góc phương trời, lớp thì dế gáy re re, hòa với

tiếng ve ngâm, giọng nghe buồn bã. Nào là thằng lằng

chắc lưởi, chim ục cầm canh, nào là dưới bụi trên

nhành sành kêu tích tích.

Ôi cái tình thê thãm ấy, cái cảnh quạnh hiu nầy, dường

như tạo-hóa đã bố trí sắp đặt ra đây, mà vây người vào

trường ly hận; và nhốt người vào trận mê hồn, làm cho

Thu-Hà ngó đến thì ruột đức gan xào, nghe vào thì càng

đầm đầm giọt lụy, đó rồi lần lần đi tới, thì thấy một đội

quân đương đứng nhựt canh trước ngỏ, và bốn phía xung

quanh, dùi trống nhịp sanh, đánh nghe khoan nhặc.

Thu-Hà và Triệu-Nương liền bước lại kêu một tên quân

và hỏi thâm tin tức Đông-Sơ, xảy thấy tên đội trưởng phía

trong bước ra cúi đầu chào Thu-Hà và hỏi: Chẳng biết

quới-nương ở đâu, đến đây có việc chi mà đêm hôm xông

pha vào miền chiến địa như vậy?

Thu-Hà nói: Tôi là vợ của Quan-đô-húy Vỏ-đông-Sơ

còn người nầy là em của Triệu-Dỏng.

Tên đội trưởng nghe nói thời đáp rằng: Quan-đô-húy

Vỏ-đông-Sơ đã chiến trường tữ trận, Hoàng-thượng dạy

đem linh cữu ngài về đây, đặng chờ ngày tống táng. Còn quan Thiếu-húy Triệu-Dỏng thì chẳng biết thất lạc thi hài

nơi nào, nay chưa tìm đặng. Nói rồi lấy tay chỉ vô nhà

nhỏ và thưa rằng: Linh cửu của quan Đô-Húy đương

quàng tại Tùng-đình kia, xin Quới-nương theo tôi vào

trong thì thấy.

Thu-Hà nghe nói lật đật bước vô, thì phía trước có chưng

một Hương-án nghiêm trang, nhưng mà đèn chong leo lét.

Nhan đốt lờ mờ, chính giữa đễ một linh cữu với ít chậu

bông hường, xem đã nhụy úa hoa tàng, dàu dàu nhánh lá,

bên màn có trao một tấm minh-sanh (kêu là tấm triệu)

và có viết một hàng chữ phấn như vầy: « Ngự-tiền hộ-giá Ngự-lâm-quân Đô-húy, Vỏ-đông-Sơ chi cữu. »

Thu-Hà thấy rỏ là Vỏ-đông-Sơ đã chết, thì chạy lại ôm

linh-cữu mà khóc một cách ai bi thê thãm rằng:

Trời ôi! Trời sao nở đem lòng nghiệc ác, mà cứ ghét

ghen chi mải phận người, đã mấy phen làm cho kẻ góc

biễn, người đầu non, kẻ sầu đông người thãm bắc, làm

cho mai gầy liểu ốm, phấn lợt hương tàng, làm cho duyên

nọ lở làng, đờn kia chinh phiếm, ngày nay còn nông nỗi

gì mà khiến cho gái nọ mất chồng, trai này bỏ vợ?

Ớ quân Mảng-tặc kia ôi! bây cậy chi những lằng tên

muổi đạn, mà làm cho đôi ta rẻ vợ phân chồng; Ớ quân

thù nghịch kia ôi! bây ỷ thế nước mạnh binh nhiều, mà

làm cho đôi ta ngày nay phải keo tang hồ rả!

Lang quân ôi! bấy lâu hai ta đã quang hà cách trở,

biết bao là non nước lạc lài, nay mới cùng nhau vừa tạng

mặt kề vai, cũng ngở là vợ chồng đặng vui tình nệm gối,

chẳng dè ngày nay thiếp ra đến đây, thì màn sầu giả dượi,

trường thãm hắc hiu, chỉ thấy cái linh cữu nầy là chỗ

lang-quân đã nằm đó mà thiêm thiếp một giấc u hồn,

thật là cách nhau trong gang tất chẳng xa, nhưng mà dẩu

kiếm ngàn năm cũng không trông thấy mặt.

Lang-quân ôi! Nước non đó, quê hương ta đó, nở bỏ

đi, mà xuống chốn tuyền đài; tình nghĩa đây, ân ái ta

đây, đành nhắm mát, mà theo miền dị lộ?

Tình-quân ôi! em nhớ thuở Lương-đình hội ngộ, đã

cùng nhau căng dặn đến đều, nay sao mà, nằm đó yêm

liềm, chẳng cùng thiếp lời chi tự biệt?

Ớ các linh cữu kia ôi, mi là loài độc ác, cậy ba thước

váng, mà đậy người trong nơi kín đáo, làm cho đó đây

hai ngã phân lìa; mi là giống vô tình, ỷ mấy tất cây, mà

dấu người trong chỗ hẹp hòi, làm cho chồng vợ ngàn thu

cách biệt.

Thu-Hà khóc một hồi, rồi dựa vào linh cửu, ngồi tưởng

mơ màng, bổng thấy một người xô cữa bước vô. Thu Hà

thất kinh lật đật thối lui vào trong, rồi hỏi: Ngươi là ai,

đến đây việc chi, sao dám vào chỗ đờn bà con gái?

Người kia nói; ta là Vỏ-đông-Sơ đây, khanh quên sao?

Thu-Hà nghe nói liền bước tới thấy quả Vỏ-đông-Sơ thì

mừng rở vô cùng và hỏi: Lang-quân, giặc đã yên chưa mà

lang quân về đặng?

Đông-Sơ nói: Quân giặc chưa yên, song ngày nay là ngày

kiết nhựt, nên tôi về đây đặng làm lể nghinh hôn mà rước

ái-khanh đi động phòng Hoa-chúc.

Thu-Hà nghe nói thì mừng biết chừng nào, liền theo

Đông-Sơ ra đi ước đặng một đổi, kế thấy một cảnh Hoa-viên, bông trái tốt tươi, cỏ cây xinh đẹp, phía trong lại có

một toà nhà rộng rải, đèn đuốc sáng loà, xảy nghe nhạc

trổi vang dầy, tiêu thiều rập nhiệp, đông sơ day lại nói với

Thu-Hà rằng; đây đã tới động phòng, xin ái-khanh hãy bước

vào buồng, đặng hai ta vầy duyên cang lệ, đó rồi hai người

dắc nhau vô phòng, đèn khêu tim đỏ, Hoa Ửng nhụy hồng,

lữa đượm hương nồng, ân tình rất nên khắc khích, kẻ kề

môi, người dựa má, khi câu chuyện, lúc giọng tình, thật

là toại thay người đẹp duyên xinh; càng mê vẻ ngọc càng

nhìn sắc hoa.

Kế đó Đông-Sơ đứng dậy nói với Thu-Hà rằng: đêm nay

trời trong trăng tỏ, vậy hai ta ra sau Hoa-viên dạo xem

phong cảnh và hóng gió chơi trăng cho giải khuây, nói rồi

dắc Thu-Hà đi quanh qua lộn lại trong vườn một hồi,

khi ra khỏi Hoa-viên, thì thấy một cái biển rộng lớn minh

mông, gió lặng sóng êm như tờ giấy trải.

Bỗng thấy một cái mống đỏ, hiện ra trên không, rồi lần

lần hạ xuống, hóa ra một cái cầu dài? bắt ngang trên mặt

biễn, trên cầu có một tấm bảng đề ba chữ « ly-hận-kiều » lại có một bọn nam thanh nữ tú qua lại trên cầu, nhơ nhởn

dập dều, đương xem trăng hứng mát. Bổng chúc thấy hai

con rắn biễn rất to, nổi trên mặt nước, mỗi con dài ước

hơn hai chục trượng, mình đen như mực, mồng đỏ tợ son,

mội con đực và một con cái, hai con dởn với nhau dưới

cầu, làm cho sóng nổi ba đào, nước văng trắng giả, rồi

quấn đui vào nhịp cầu, và vỏ xà nẹo cùng nhau mà

nhúng tới đưa lại, trồi lên lụp xuống một hồi, làm cho

nhịp giữa gảy ngang, cầu kia đức ra làm hai đoạn, rồi lần

lần dang ra, xảy nghe những người đương đứng trên cầu

kêu la inh ỏi, kẻ kêu vợ người khóc chồng, kẻ lìa em người

cách bạn, hai bên đầu cầu kêu khóc om sòm, nghe rất ai

bi thảm thiết, còn hai đoạn cầu dang lần ra xa, rồi đoạn

thì trôi về hướng nam, đoạn lại trôi qua phía bắc, làm cho

những người ở trên cầu ấy phải phân vợ rẻ chồng, biết bao

là thảm sầu khỗ nảo!

Đông-Sơ cùng Thu-Hà thấy vậy thì lấy làm một đều quái

dị, đứng ngó sững sờ, rồi cũng đau lòng thương xót và

muốn quay gót trở về, kế thấy trên mặt biển mọc lên một

trụ đá to lớn, trên trụ lại có ba chữ « Tình-nghiệc-hải »

nghĩa là cái biển tình rất ác nghiệc dữ dằn.

Kế đó lại thấy một thằng quỉ cao lớn, mặt xanh như

chàm, mình mẩy vằn vện như cọp, ở trong trụ đá nhảy

ra, và lấy tay thò xuống biển vậy nước trào lên, làm cho

sóng nổi đùng đùng, khói bay mịt mịt, rồi hai chơn bước

trên ngọn sóng, phăn phăn đi vô, đi tới đâu thì sóng gió

ùng ùng tới đó, bỏ vòi cao lên như núi vậy.

Khi vô tới mé, thì nhảy lại chụp Đông-Sơ. Đông-Sơ trớ

qua rồi rút gươm chém thằng quĩ ấy một cái, thì thấy

thằng quỉ liền hả miệng phung ra một vòi máu làm cho

Đông-Sơ mình mẫy và mặt mày đều vấy máu đỏ lòm.

Đông-Sơ nổi xung nhảy tới đâm thằng quĩ ấy một gươm

ngang lưng lũng vào tới ruột, tức thì trong lỗ đâm đó ló

ra một cái đuôi dài hơn năm sải, rồi quấn ngan mình

Đông-Sơ và kéo nhào xuống biển.

Thu-Hà thấy vậy hoãn kinh nhảy theo chụp Đông-Sơ

niếu lại, chẳng dè chụp nhằm cây gươm đễ thờ Đông-Sơ

bên bàn hương-án, thì dực mình tĩnh lại, té ra một giấc chiêm bao. Ngó lại thấy cây gươm còn nắm chặc khừ

trong tay, thì đứng đó ngơ ngững sững sờ. Một hồi, rồi tự

nghỉ rằng:

Thế thì đêm nay là đêm chót trong đời mình đây, nên

khiến cho chiêm bao mà thấy một điềm rất nên kinh dị,

và cây gươm nầy là gươm đễ cho mình toan bề tự xữ,

đó chăng?

Nghĩ rồi bước ra hương-án của Đông-Sơ lấy nhan đốt

lên mà khóc rằng:

Lang-quân ôi! Hai ta mãng bị cái kiếp nhơn duyên trắc

trở, mà sống chẳng đặng cùng nhau đồng tịch đồng sàng,

vậy thì ngày nay là ngày thiếp đến đây, xin mượn cây

gươm nầy, mà xã mạng quyên sanh, đặng thác theo lang-quân cho đồng quang đồng huyệt.

Lang-quân ôi! Lang-quân đã biết lấy một lòng ái quốc,

liều thân danh mà trã nợ nước nhà; Vậy thì thiếp đây

cũng nguyện đỗ một giọt máu chung tình, xuống địa-phủ

mà đền ơn tri-ngộ.

Nói rồi liền lấy gươm đâm họng và ngả bên linh-cữu

của Đông-Sơ mà thác.

Triệu-nương đương ở phía sau bước ra thấy Thu-Hà

nằm bên linh-cữu. Và máu chảy dầm dề, thì thất kinh lật

đật lại ôm Thu-Hà mà khóc một hồi, ngó lại thì Thu-Hà

đã thác.

Chổ nầy là chỗ chung cuộc của Vỏ-đông-Sơ với Bạch-thu-Hà rồi, tới đây tôi muốn gát bút nghĩ ngơi và nói lớn

một tiếng rằng: truyện nầy đã hoàng tất, nhưng e cho

liệc quới khán quan xem đến đây thấy giọt máu chung

tình lai láng; cái hồn trung liệc quạnh hiu, thế thì cũng

có lẻ phiền dạ ức lòng mà trách rằng: tác giả là người

rất đoản hậu vô tình, lấy ngọn bút sát nhơn mà giết chết

một vị anh hùng với một trang liệc nữ, rồi để đó tồi tàng,

mà chẳng cho tống táng.

Vì vậy nên tác giả xin nói tiếp thêm một đoạn sau đây

cho được toàn thỉ toàn chung, kẻo ức lòng kẻ đọc:

Hết chương 29

Đọc chương 30 →

Bình luận về truyệnTrang truyện