Cao Tổ .mw-parser-output .template-kai{font-family:TH-Khaai-TP0,TH-Khaai-TP2,TH-Feon-A,楷体,KaiTi,楷体_GB2312,KaiTi_GB2312,FandolKai,华文楷体,STKaiti,TH-Khaai-PP0,TH-Khaai-PP2,Kai,BiauKai,"AR PL UKai CN",標楷體,DFKai-SB,"AR PL UKai HK","AR PL UKai TW",SimKai,全字庫正楷體,TW-Kai,EUDCKAI,cursive}.mw-parser-output .template-kai:lang(zh-hant),.mw-parser-output .template-kai:lang(zh-hk),.mw-parser-output .template-kai:lang(zh-mo),.mw-parser-output .template-kai:lang(zh-tw){font-family:標楷體,DFKai-SB,"AR PL UKai HK","AR PL UKai TW",BiauKai,Kai,全字庫正楷體,TW-Kai,TH-Khaai-PP0,TH-Khaai-PP2,TH-Khaai-TP0,TH-Khaai-TP2,TH-Feon-A,楷体,KaiTi,楷体_GB2312,KaiTi_GB2312,FandolKai,华文楷体,STKaiti,"AR PL UKai CN",EUDCKAI,cursive}高祖
Cao Tổ Thánh Văn Chương Võ Minh Đức Hiếu Hoàng đế [Thạch Kính Đường, 892–942], cha là Niết Liệt Kê, vốn gốc người Tây Di, từ bộ Chu Tà quy thuận nhà Đường, theo Chu Tà vào ở núi Âm Sơn. Sau này, Tấn Vương Lý Khắc Dụng dấy lên ở khoảng Vân Châu, Sóc Châu, Niết Liệt Kê nhờ giỏi cưỡi ngựa bắn cung, thường theo Tấn Vương chinh phạt có công, được phong chức Minh Châu thứ sử. Niết Liệt Kê sinh ra Kính Đường, mang họ Thạch, chẳng rõ cái họ ấy bắt đầu từ đâu. Kính Đường tính người thâm trầm đôn hậu, ít nói, Minh Tông [Lý Tự Nguyên] yêu mến, gả con gái cho, tức là Vĩnh Ninh công chúa, do đó thường ở dưới trướng Minh Tông, gọi là Tả xạ quân.
Trang Tông [Lý Tồn Úc] đã lấy được Ngụy Châu, tướng Lương là Lưu Tầm đánh gấp Thanh Bình, Trang Tông phi ngựa đến cứu, quân chưa kịp bày trận thì bị Tầm đánh úp. Kính Đường đem hơn mười kỵ binh vác giáo xông ngang đánh vào, bắt được địch mà quay về. Trang Tông vỗ lưng khen là tráng sĩ, tay bốc món tô (Món ăn làm từ sữa bò dê của người Hồ) cho ăn (Ăn tô là việc người Di Địch coi trọng), do đó tiếng tăm Kính Đường vang động trong quân. Năm thứ mười lăm [918], Trang Tông chiến ở Hồ Liễu, Tiền phong Chu Đức Uy chết trận, Kính Đường đem Tả xạ quân theo Minh Tông đánh bại lại quân Lương. Minh Tông đánh ở Hồ Lô Sáo, Dương Thôn, bị quân Lương đánh bại, Kính Đường thường cứu Minh Tông thoát khỏi nguy nan.
Khi Triệu Tại Lễ làm loạn, Minh Tông đi đánh dẹp, đến Ngụy Châu thì binh biến. Minh Tông ban đầu muốn tự mình về quy phục Thiên tử để tỏ rõ lòng trung. Kính Đường hiến kế: "Há có chuyện quân biến ở ngoài mà thượng tướng một mình vô sự sao? Vả lại do dự là đại kỵ của nhà binh, chi bằng đi gấp. Xin cho ba trăm kỵ binh đánh Biện Châu trước, cửa Di Môn là nơi yếu hại của thiên hạ, lấy được thì thành nghiệp lớn". Minh Tông cho là phải, giao cho ba trăm quân kiêu kỵ, qua bến Lê Dương làm tiền phong, Minh Tông bèn vào được Biện. Trang Tông từ Lạc Dương đến sau, không vào được, quân sĩ đều tan vỡ cả. Trang Tông quay về phía tây, Minh Tông lấy Kính Đường làm tiền phong đến Tị Thủy, thu nhặt tàn quân. Trang Tông bị giết, Minh Tông vào lập, bái Kính Đường làm Bảo Nghĩa quân tiết độ sứ, ban hiệu "Kiệt trung kiến sách hưng phục công thần", kiêm Lục quân chư vệ phó sứ.
Kính Đường ở Thiểm Châu làm chính sự nổi tiếng liêm khiết. Lúc ấy, chư hầu phần nhiều không tuân pháp luật, Đặng Châu có Đào Khởi, Bạc Châu có Lý Nghiệp đều vì tội tham ô mà bị luận tội chết, Minh Tông hạ chiếu khen ngợi các quan liêm khiết là Phổ Châu An Sùng Nguyễn, Minh Châu Trương Vạn Tiến, Diệu Châu Tôn Nhạc để răn thiên hạ, mà lấy Kính Đường làm đầu.
Tháng mười năm Thiên Thành thứ hai [927], Kính Đường theo vua đến Biện Châu, làm Ngự doanh sứ, bái Tuyên Vũ quân tiết độ sứ, Thị vệ thân quân mã bộ quân đô chỉ huy sứ, Lục quân phó sứ như cũ; đổi ban hiệu "Diệu trung khuông định bảo tiết công thần". Tháng tư năm thứ ba, dời sang trấn Thiên Hùng, bái Đồng trung thư môn hạ bình chương sự, Hưng Đường phủ doãn. Tháng năm, bái Phò mã đô úy. Đổng Chương làm phản ở Đông Xuyên, Kính Đường làm Hành doanh đô chiêu thảo sứ, không thắng phải về. Lại kiêm Lục quân chư vệ phó sứ.
Dời sang trấn Hà Dương Tam Thành, chưa đi thì Khiết Đan, Thổ Hồn, Đột Quyết đều vào cướp. Lúc ấy Tần Vương Tòng Vinh thống lĩnh sáu quân, Kính Đường ngờ rằng Tòng Vinh ắt gặp vạ, không muốn làm phó cho y, bèn tự xin đi trấn nhậm. Đến khi tờ chế ban ra, không bãi chức phó sứ, Kính Đường lại từ chối lần nữa. Minh Tông nhiều lần trách cứ đại thần hỏi xem ai có thể đi được, bọn Phạm Diên Quang, Triệu Diên Thọ rốt cuộc đều xin lấy Kính Đường, vua bèn bái làm Hà Đông tiết độ sứ, Đại Đồng Chương Quốc Chấn Võ Uy Tắc đẳng quân phiên hán mã bộ quân tổng quản, bãi chức Lục quân phó sứ, bấy giờ mới chịu đi.
Năm sau [933], Minh Tông băng, Mẫn Đế lên ngôi, gia phong Kính Đường làm Trung thư lệnh. Tháng ba, dời sang trấn Thành Đức. Tháng năm năm Thanh Thái thứ nhất [934], lại trấn Thái Nguyên, vào chầu kinh sư. Lộ Vương Tòng Kha làm phản ở Phượng Tường, Mẫn Đế chạy trốn, gặp Kính Đường giữa đường. Kính Đường giết hơn trăm tùy tùng của Đế, giam Đế ở Vệ Châu rồi bỏ đi. Phế Đế [Lộ Vương] lên ngôi, nghi ngờ Kính Đường tất phản.
Năm Thiên Phúc thứ nhất [936], tháng năm, dời Kính Đường sang trấn Thiên Bình. Kính Đường quả nhiên không chịu nhận mệnh, bảo thuộc hạ rằng: "Tiên đế giao cho ta trấn Thái Nguyên để dưỡng già, nay vô cớ mà dời đi, ấy là nghi ta làm phản. Vả lại Thái Nguyên đất hiểm mà thóc nhiều, ta nên bên trong thì gửi hịch cho các trấn, bên ngoài cầu viện ở Khiết Đan, được chăng?" Tang Duy Hàn, Lưu Tri Viễn đều cho là phải. Bèn dâng biểu luận tội Phế Đế không đáng được lập, xin lập Hứa Vương Tòng Ích làm người kế tự của Minh Tông. Phế Đế hạ chiếu tước đoạt quan tước của Kính Đường, sai Trương Kính Đạt đi đánh. Kính Đường cầu viện Khiết Đan. Tháng chín, Da Luật Đức Quang nước Khiết Đan vào từ cửa Nhạn Môn, đánh nhau với quân Đường, Kính Đạt đại bại. Kính Đường đêm ra cửa bắc yết kiến Da Luật Đức Quang, ước làm cha con.
Ngày Đinh Dậu tháng mười một [28 tháng 11], Hoàng đế [Thạch Kính Đường] lên ngôi. Ở bản kỷ Phế Đế chép "Khiết Đan lập Tấn", là cứ theo việc mắt thấy; ở đây chép "Hoàng đế lên ngôi", dùng văn tự lập, là xét cái tâm vậy. Việc làm phản của Tấn Cao Tổ, không có sự giúp đỡ của Khiết Đan thì cũng ắt tự lập, cái chí là muốn làm vua, cho nên để ông ta tự gánh lấy cái ác ấy. Đặt quốc hiệu là Tấn. Đem các châu: U, Trác, Kế, Đàn, Thuận, Doanh, Mạc, Vệ, Sóc, Vân, Ứng, Tân, Quy, Nho, Vũ, Hoàn nhập vào nước Khiết Đan. Ngày Kỷ Hợi, đại xá, đổi niên hiệu. Chưởng thư ký Tang Duy Hàn làm Hàn lâm học sĩ, Thượng thư lễ bộ thị lang, Tri Khu mật sứ sự.
Tháng nhuận, ngày Bính Dần [27 tháng 12], Hàn lâm học sĩ thừa chỉ, Thượng thư hộ bộ thị lang Triệu Oanh làm Môn hạ thị lang; Tang Duy Hàn làm Trung thư thị lang: Đồng trung thư môn hạ bình chương sự, kiêm Khu mật sứ. Ngày Giáp Tuất, Triệu Đức Quân và con là Diên Thọ phản Đường sang hàng, Khiết Đan xiềng lại đem về bắc. Ngày Kỷ Mão, đóng quân ở Hà Dương, Tiết độ sứ Trương Tòng Giản phản Đường sang hàng. Ngày hôm ấy Phế Đế tự thiêu. Ngày Tân Tỵ, từ Thái Nguyên về đến [kinh sư]. Bãi chức Lư Văn Kỷ, Diêu Khải. Ngày Giáp Thân, đại xá, giết Trương Diên Lãng, Lưu Diên Lãng, tha cho Phòng Cảo. Tháng mười hai, ngày Ất Dậu, vua đến Hà Dương. Giáng Vương Tòng Kha xuống làm thứ dân Vương Tòng Kha, là gọi theo lời người nước Tấn. Ngày Đinh Hợi, Tư không Phùng Đạo kiêm Môn hạ thị lang, Đồng trung thư môn hạ bình chương sự. Ngày Kỷ Sửu, Chỉ huy sứ Tào Châu Thạch Trọng Lập giết Thứ sử Trịnh Ngoạn. Ngày Tân Mão, hạ ngự trát cầu lời nói thẳng. Ngày Quý Tỵ, Nha nội đô ngu hầu Trấn Châu Bí Quỳnh đuổi Tiết độ sứ phó sứ Lý Ngạn Kỳ. Tỳ tướng Đồng Châu Môn Đạc giết chủ tướng Dương Hán Tân. Ngày Canh Tý, Thiên Bình quân tiết độ sứ Vương Kiến Lập giết phó sứ Lý Ngạn Bân. Hạn hán.
Năm thứ hai [22 tháng 2], mùa xuân, tháng giêng, ngày Quý Hợi, An Viễn quân tiết độ sứ Lư Văn Tiến làm phản hàng nước Ngô. Ngày Đinh Mão, Thiên Hùng quân tiết độ sứ Phạm Diên Quang giết Phòng ngự sứ Tề Châu Bí Quỳnh. Ngày Mậu Dần, Binh bộ thị lang Lý Tung làm Trung thư thị lang, Đồng trung thư môn hạ bình chương sự, Khu mật sứ. Phong con tông thất nhà Đường làm Công, con cháu Bùi công nhà Tùy làm Nhị Vương hậu, lấy con cháu Chu Giới công làm Tam Khác Con tông thất nhà Đường, sử mất tên, chép là để thấy Nhị vương hậu, Tam khác vẫn còn, không cần ghi rõ người nào. Tháng hai, ngày Đinh Dậu, Hoàng thái tử Giải Lý nước Khiết Đan đến. Tháng ba, ngày Canh Thìn, vua đến Biện Châu. Mùa hạ, tháng tư, ngày Đinh Hợi, tha tù nhân, miễn tô thuế cho dân. Triệu Oanh đi sứ sang Khiết Đan. Ngày Tân Mão, Tuyên Vũ quân tiết độ sứ Dương Quang Viễn dâng tiền giúp nước. Cung uyển sứ Lý Khả Hưng nước Khiết Đan đến. Tháng năm, ngày Nhâm Tuất [21 tháng 6], hạ ngự trát cầu lời nói thẳng. Ngày Đinh Sửu, truy tôn tổ khảo làm Hoàng đế, tổ tỷ làm Hoàng hậu: Cao tổ tên Cảnh thụy Hiếu An, miếu hiệu Tĩnh Tổ, tổ tỷ Tần thị thụy Hiếu An Nguyên; Tằng tổ tên Sâm thụy Hiếu Giản, miếu hiệu Túc Tổ, tổ tỷ An thị thụy Hiếu Giản Cung; Tổ tên Dục thụy Hiếu Bình, miếu hiệu Duệ Tổ, tổ tỷ Lai thị thụy Hiếu Bình Hiến; Cha tên Thiệu Ung thụy Hiếu Nguyên, miếu hiệu Hiến Tổ, mẹ Hà thị thụy Hiếu Nguyên Ý.
Tháng sáu, ngày Quý Mùi [12 tháng 7], Di ly tất nước Khiết Đan đến. Thiên Hùng quân tiết độ sứ Phạm Diên Quang làm phản. Ngày Đinh Dậu, truyền hịch gọi Nghĩa Thành quân tiết độ sứ Phù Ngạn Nhiêu. Ngày Đinh Mùi, Dương Quang Viễn làm Ngụy phủ tứ diện hành doanh đô bộ thự. Tuần kiểm Đông Đô Trương Tùng Tân làm phản, Lưu thủ phán quan Lý Hà chết vì việc ấy; Phụng quốc đô chỉ huy sứ Hầu Ích, Hộ thánh đô chỉ huy sứ Đỗ Trọng Uy đi đánh. Tùng Tân cướp Hà Dương, giết hoàng tử Trọng Tín; cướp Hà Nam, giết hoàng tử Trọng Nghĩa.
Mùa thu, tháng bảy, Tùng Tân hãm cửa quan Tị Thủy, giết Tuần kiểm sứ Tống Đình Hạo. Ngày Nhâm Tý, Tả vệ đại tướng quân Doãn Huy làm phản chạy sang Ngô, không được, bị giết. Hữu giám môn vệ đại tướng quân Lâu Kế Anh làm phản hàng Trương Tùng Tân. Nghĩa Thành quân làm loạn, giết thú tướng Thị vệ mã bộ quân đô chỉ huy sứ Bạch Phụng Tiến. Ngày Giáp Dần, thú tướng Phụng quốc chỉ huy sứ Mã Vạn bắt Phù Ngạn Nhiêu giải về kinh sư, vua sai giết ở Xích Cương. Ngạn Nhiêu tuy có tội buông thả quân lính, nhưng bị vu là làm phản mà bị giết, nên không chép là "tru", chỉ chép "sai giết", hiềm là Mã Vạn tự ý giết. Ngày Ất Mão, Dương Quang Viễn làm Ngụy phủ hành doanh đô chiêu thảo sứ. Ngày Tân Dậu, Đỗ Trọng Uy khắc phục cửa quan Tị Thủy Trương Tùng Tân nhảy xuống sông chết, nên không chép là bị giết. Ngày Nhâm Thân, Dương Quang Viễn khắc phục Bác Châu. Ngày Bính Tý, An Châu đồn phòng chỉ huy sứ Vương Huy giết Tiết độ sứ Chu Côi, Hữu vệ đại tướng quân Lý Kim Toàn đi đánh. Kim Toàn chưa đến mà Huy đã chạy, bị giết, nên không chép Huy phản, không chép khắc phục An Châu, không chép bị giết.
Tháng tám, ngày Bính Thân [14 tháng 8], Tĩnh Nan quân tiết độ sứ An Thúc Thiên dâng ngựa Thiêm đô. Ngày Ất Tỵ, tha tù nhân không phải tội chết và dư đảng của Trương Tùng Tân, Phù Ngạn Nhiêu, Vương Huy. Tháng chín, Dương Quang Viễn dâng thóc. Mùa đông, tháng mười, ngày Tân Tỵ, cấm chế tạo áo giáp binh khí. Năm thứ ba, mùa xuân, tháng hai, ngày Mậu Tuất, các trấn đều dâng vật phẩm để giúp nước. Hại dân để dâng vua, vua tôi cùng ham muốn, hối lộ công khai, đến đây thì nhiều không kể xiết! Cho nên chép tóm là "các trấn", về sau không chép nữa. Tháng ba, ngày Nhâm Tuất, Khả hãn Vương Nhân Mỹ nước Hồi Hốt sai Địch Toàn Phúc đến. Ngày Đinh Sửu, cấm tư nhân chế tạo đồ đồng. Mùa thu, tháng bảy, ngày Tân Dậu, lấy "tiền hoàng nghiệp" làm ấn Thụ Mệnh. Làm ấn không cần chép, nhưng "tiền hoàng nghiệp" là tiền riêng, Thiên tử tích trữ tiền riêng, nên mới chép. Tháng tám, ngày Mậu Dần, Phùng Đạo và Tả bộc xạ Lưu Hú làm Sách lễ sứ sang Khiết Đan. Ngày Nhâm Ngọ, Thứ sử Thiền Châu Phùng Huy hàng. Ngày Bính Tuất, cho phép quan Ngự sở được tuyển cử. Ngày Kỷ Sửu, tha thuế thủy hạn cho dân. Ngày Tân Sửu, trả nhạc công lại cho Khiết Đan. Cao Tổ thờ Khiết Đan như cha, nó có đòi hỏi gì không nói là "cho" mà nói là "trả" (quy), như là nộp cống vậy. Tháng chín, ngày Kỷ Dậu, tha tội Phạm Diên Quang. Hồi đầu, Diên Quang xin hàng, Cao Tổ không cho, Diên Quang bèn cố thủ, đánh mãi không được, rốt cuộc hối hận mà tha cho, nên không chép là hàng. Ngày Kỷ Vị, trả quan Tĩnh biện Lưu Thủ Uy, Kim ngô khám khế quan Vương Ân, Tư thiên kê khiếu học sinh Ân Huy cho Khiết Đan. Sứ Vu Điền Mã Kế Vinh đến, sứ Hồi Hốt Lý Vạn Kim đến. Ngày Kỷ Tỵ, xá tội cho Ngụy Châu, miễn thuế cho dân. Tháng này, Tuyên huy nam viện sứ Lưu Xử Nhượng làm Khu mật sứ.
Mùa đông, tháng mười, ngày Mậu Dần, sứ Khiết Đan là Trung thư lệnh Hàn Giáp đến dâng sách phong là Anh Võ Minh Nghĩa Hoàng đế. Ngày Canh Thìn, thăng Biện Châu làm Đông Kinh, lấy Lạc Dương làm Tây Kinh, Ung Châu làm Tấn Xương quân. Ngày Mậu Tý, Hữu kim ngô vệ đại tướng quân Mã Tòng Bân đi sứ sang Khiết Đan. Ngày Kỷ Vị, sứ Khiết Đan là Mai Lý đến. Ngày Mậu Tuất, đại xá. Ngày Canh Tý, phong Lý Thánh Thiên làm Đại Bảo Vu Điền quốc vương. Tháng mười một, ngày Tân Hợi, thăng Quảng Tấn phủ làm Nghiệp Đô. Ngày Nhâm Tuất, bỏ chức Chúc tiền lệnh. Tháng mười hai, ngày Bính Tý [27 tháng 12], phong con là Trọng Quý làm Trịnh Vương.
Năm thứ tư, mùa xuân, tháng giêng [939], trộm đào mộ Đường Mẫn Đế. Mẫn Đế táng phụ vào vực lăng Huy Lăng của Minh Tông, không có tên lăng, nên gọi là "mộ", Tấn Cao Tổ lên ngôi, truy thụy là Mẫn Hoàng đế. Thụy hiệu các vua Ngũ Đại không thể làm phép tắc, đều không đáng nói, duy có Mẫn Đế nên chép, vì hiềm ông từng bị giáng làm Ngạc Vương. Mà nước mất lễ thiếu, cựu sử, thực lục đều không có ngày tháng tâu thụy dâng sách, nên tuy đáng chép mà không được, nhân việc này mà thấy ở đây thôi. Ngày Tân Hợi, Thiền Châu phòng ngự sứ Trương Tòng Ân làm Khu mật phó sứ. Biểu dương cửa nhà dân Thâm Châu là Lý Tự Luân. Tháng ba, ngày Ất Tỵ [26 tháng 3], Đô đốc Dệt Lý Đôn nước Hồi Hốt đến. Ngày Bính Thìn, ban hành lịch Điều Nguyên. Thú tướng Linh Châu Vương Ngạn Trung lấy thành Hoài Viễn làm phản. Ngày Kỷ Vị, Ngạn Trung hàng, Cung phụng quan Tề Diên Tộ giết đi.
Mùa hạ, tháng tư, ngày Tân Tỵ [1 tháng 5], phong Khả hãn Vương Nhân Mỹ nước Hồi Hốt làm Phụng Hóa khả hãn. Ngày Giáp Thân, bãi bỏ Khu mật sứ. Mùa thu, tháng bảy, ngày Bính Thìn, lại cấm đúc tiền. Tháng nhuận, ngày Nhâm Thân [20 tháng 8], bãi chức Tang Duy Hàn. Tháng tám, ngày mồng một Kỷ Hợi, sông Hà vỡ ở Bác Bình. Giặc Tây Nhung cướp Kính Châu, Chương Nghĩa quân tiết độ sứ Trương Ngạn Trạch đánh bại, bắt được thủ lĩnh Dã Ly La Hà Độc. Tháng chín, ngày Đinh Sửu [24 tháng 10], sứ Khiết Đan Niêm Mộc Cô đến. Ngày Quý Mùi, phong Lý Tòng Ích làm Tuân Quốc công để thờ cúng nhà Đường. Ngày Bính Tuất, vua Cao Ly Kiến [Vương Kiến] sai Quảng bình thị lang Hình Thuận đến. Mùa đông, tháng mười một, ngày Ất Hợi, lập miếu Đường Cao Tổ, Thái Tông, Trang Tông, Minh Tông, Mẫn Đế ở Tây Kinh. Ngày Mậu Tý, sứ Khiết Đan Diêu Chiết đến, bãi binh Thổ Phồn Diên Tộc đến quy phụ.
Năm thứ năm, mùa xuân, tháng giêng, ngày mồng một Đinh Mão [19 tháng 9], hạ chiếu đức âm xóa nợ công tư cho dân. Ngày Kỷ Sửu, sứ Hồi Hốt Thạch Hải Kim đến. Mùa hạ, tháng tư, ngày Giáp Tý, Hưng Hóa Vương nước Khiết Đan đến. Tháng năm, ngày Bính Tuất, An Viễn quân tiết độ sứ Lý Kim Toàn phản Tấn theo Đường. Tháng sáu, ngày Quý Mão, Lý Biện [Nam Đường] sai tướng Lý Thừa Dụ vào An Châu, Kim Toàn chạy sang Đường, An Viễn quân tiết độ sứ Mã Toàn Tiết đánh nhau với Thừa Dụ, phá được. Ngày Đinh Tỵ, khắc phục An Châu, Thừa Dụ chạy đến Vân Mộng, Toàn Tiết bắt được giết đi. Mùa thu, tháng tám, ngày Đinh Dậu, xem gặt lúa ở ngoại ô phía tây. Ngày Kỷ Vị, Tây Kinh lưu thủ Dương Quang Viễn giết Thái tử thái sư Phạm Diên Quang. Tháng chín, ngày Đinh Mão, Hàn lâm học sĩ thừa chỉ, Hộ bộ thị lang Hòa Ngưng làm Trung thư thị lang, Đồng trung thư môn hạ bình chương sự. Ngày Tân Tỵ, xem gặt lúa ở Sa Đài. Mùa đông, tháng mười, ngày Đinh Mùi, sứ Khiết Đan Xá Lợi đến. Tháng mười một, ngày Bính Tý, Đông chí, bắt đầu dùng Nhị vũ.
Năm thứ sáu, mùa xuân, tháng giêng, ngày Mậu Dần [16 tháng 2 năm 941], phong Đường Thúc Ngu làm Hưng An Vương, Đài Thai làm Xương Ninh công. Tháng hai, ngày Mậu Thân, ngừng tiền mua yến. Tháng ba, xóa thuế cho dân từ năm thứ hai đến năm thứ tư về trước. Để thấy thuế lúc ấy nặng mà dân không chịu nổi. Mùa hạ, tháng tư, ngày Kỷ Vị, sứ Khiết Đan Thuật Quát đến. Tháng năm, thủ lĩnh Thổ Hồn Bạch Thừa Phúc đến. Mùa thu, tháng bảy, ngày Nhâm Ngọ, sứ Đột Quyết Tiết Đồng Hải đến.
Tháng tám, ngày Nhâm Thìn [29 tháng 8], vua đến Nghiệp Đô, Khai Phong phủ doãn Trịnh Vương Trọng Quý lưu thủ Đông Kinh, Tuyên huy nam viện sứ Trương Tòng Ân làm Đông Kinh nội ngoại binh mã đô giám. Ngày Nhâm Dần, đại xá. Ngày Giáp Dần, Quang lộc khanh Trương Trừng đi sứ sang Khiết Đan. Tháng chín, ngày Ất Hợi, Tiền An Quốc quân tiết độ sứ Dương Ngạn Tuân đi sứ sang Khiết Đan. Ngày Đinh Sửu, sứ Thổ Hồn Bạch Khả Cửu đến. Sông Hà vỡ ở Trung Đô, chảy vào sông Đạp.
Mùa đông, tháng mười, sông Hà vỡ ở các châu Hoạt, Bộc, Vận, Thiền. Sơn Nam đông đạo tiết độ sứ An Tòng Tiến làm phản. Tháng mười một, ngày Đinh Sửu, Tây Kinh lưu thủ Cao Hành Chu làm Nam diện quân tiền đô bộ thự đi đánh. Tháng mười hai, ngày mồng một Bính Tuất [21 tháng 12], Trịnh Vương Trọng Quý làm Quảng Tấn phủ doãn, dời phong Tề Vương. Tiên phong đô chỉ huy sứ Quách Kim Hải đánh nhau với An Tòng Tiến ở Đường Châu, phá được. Thành Đức quân tiết độ sứ An Trọng Vinh làm phản. Thiên Bình tiết độ sứ Đỗ Trọng Uy làm Trấn Châu hành doanh chiêu thảo sứ. Ngày Bính Thân, Khiết Đan sai sứ đến. Ngày Mậu Tuất, Đỗ Trọng Uy đánh nhau với An Trọng Vinh ở Tông Thành, phá được.
Năm thứ bảy, mùa xuân, tháng giêng, ngày Đinh Tỵ [21 tháng 1 năm 942], khắc phục Trấn Châu, An Trọng Vinh chịu tội chết, xá tội cho Quảng Tấn. Ngày Canh Ngọ, sứ Khiết Đan Đạt Lạt đến. Tháng ba, Quy Đức quân tiết độ sứ An Ngạn Uy lấp đê vỡ sông Hà ở Hoạt Châu. Tháng nhuận, châu Thiên Hưng có châu chấu ăn lúa mạch. Mùa hạ, tháng năm, ngày Ất Tỵ, tôn Hoàng thái phi Lưu thị làm Thái hậu. Mẹ đẻ của Cao Tổ. Tháng sáu, ngày Bính Thìn, sứ Thổ Hồn Niệm Sửu Hán đến. Ngày Ất Sửu, Hoàng đế băng ở điện Bảo Xương. Hưởng dương năm mươi mốt tuổi.