Thái Tổ .mw-parser-output .template-kai{font-family:TH-Khaai-TP0,TH-Khaai-TP2,TH-Feon-A,楷体,KaiTi,楷体_GB2312,KaiTi_GB2312,FandolKai,华文楷体,STKaiti,TH-Khaai-PP0,TH-Khaai-PP2,Kai,BiauKai,"AR PL UKai CN",標楷體,DFKai-SB,"AR PL UKai HK","AR PL UKai TW",SimKai,全字庫正楷體,TW-Kai,EUDCKAI,cursive}.mw-parser-output .template-kai:lang(zh-hant),.mw-parser-output .template-kai:lang(zh-hk),.mw-parser-output .template-kai:lang(zh-mo),.mw-parser-output .template-kai:lang(zh-tw){font-family:標楷體,DFKai-SB,"AR PL UKai HK","AR PL UKai TW",BiauKai,Kai,全字庫正楷體,TW-Kai,TH-Khaai-PP0,TH-Khaai-PP2,TH-Khaai-TP0,TH-Khaai-TP2,TH-Feon-A,楷体,KaiTi,楷体_GB2312,KaiTi_GB2312,FandolKai,华文楷体,STKaiti,"AR PL UKai CN",EUDCKAI,cursive}太祖
Thái Tổ Thánh Thần Cung Túc Văn Vũ Hoàng đế [904–954, húy Uy], họ Quách, người vùng Nghiêu Sơn, Hình Châu. Cha là Giản, làm Thứ sử Thuận Châu nước Tấn. Khi Lưu Nhân Cung đánh phá Thuận Châu, Giản bị giết, con là Uy (tức Thái Tổ) mồ côi từ bé, phải nương nhờ nhà họ Thường ở Lộ Châu.
Lưu hậu Lộ Châu là Lý Kế Thao tuyển mộ kẻ dũng cảm làm quân tòng chinh, Uy năm ấy mười tám tuổi, nhờ sức vóc dũng mãnh mà được tuyển. Uy vốn tính cương cường, thích rượu chè, Kế Thao lấy làm lạ lắm. Có lần Uy dạo chơi ngoài chợ, chợ có gã hàng thịt, thường cậy sức bắt nạt người trong chợ. Uy say rượu, gọi gã hàng thịt lại, bắt mang ghế đến cắt thịt, cắt không đúng ý, Uy mắng, gã hàng thịt vạch bụng ra thách: “Ngươi là uy kẻ dũng, có giám giết ta không?” Uy bèn tiến lên cầm dao xiên chết gã, cả chợ đều kinh hãi, riêng Uy vẫn thản nhiên. Bị quan lại bắt giam, Kế Thao tiếc cái dũng của ông, ngầm thả cho trốn đi, sau lại gọi về đặt dưới trướng.
Kế Thao sau phản Tấn theo Lương, sau Trang Tông diệt Lương, Kế Thao bị tru di, binh lính dưới quyền đều bị sung vào Tòng mã trực. Uy nhờ thông chữ nghĩa, lại biết tính toán nên được bổ làm quân lại. Ông thích đọc Khổn ngoại Xuân Thu, biết sơ lược binh pháp, sau làm Thị vệ quân lại. Hán Cao Tổ (Lưu Tri Viễn) làm Thị vệ thân quân đô ngu hầu, rất yêu mến ông, sau [Cao Tổ] trấn nhậm ở đâu cũng thường đem Uy theo cùng. Khi Khiết Đan diệt Tấn, Hán Cao Tổ dấy binh ở Thái Nguyên, lên ngôi Hoàng đế, phong Uy làm Khu mật phó sứ.
Tháng giêng năm Càn Hựu thứ nhất [948], bệnh tình Cao Tổ nguy kịch, bèn đem Ẩn Đế thác cô cho bọn Uy và Sử Hoằng Triệu. Ẩn Đế lên ngôi, phong Uy làm Khu mật sứ. Tháng ba năm ấy, bọn Lý Thủ Trinh ở Hà Trung, Triệu Tư Quán ở Vĩnh Hưng, Vương Cảnh Sùng ở Phượng Tường nối nhau làm phản, Ẩn Đế sai bọn Bạch Văn Kha, Quách Tùng Nghĩa, Thường Tư chia quân đi đánh, lâu ngày không có công trạng. Ẩn Đế bảo Uy: “Trẫm muốn làm phiền khanh, liệu có được chăng?” Uy đáp: “Thần không dám xin, cũng không dám chối, chỉ biết nghe mệnh Bệ hạ!” Vua bèn gia phong Uy chức Đồng trung thư môn hạ bình chương sự, sai sang phía Tây đốc thúc các tướng.
Uy ở trong quân, thường mời đón tân khách, áo rộng đai to, nhưng khi ra trận hay đi tuần doanh trại thì chít khăn, mặc áo chẽn ngắn vạt sau, chẳng khác gì sĩ tốt. Bao nhiêu đồ vua ban thưởng, ông đem ra cùng chư tướng thi bắn, ai trúng thì lấy, chỗ còn lại đem chia hết cho sĩ tốt, tướng sĩ ai nấy đều vui lòng.
Uy đến Hà Trung, tự lập trại ở phía đông thành, Thường Tư lập trại phía nam, Văn Kha lập trại phía tây, điều dân đinh năm huyện khoảng hai vạn người đắp lũy liên hoàn để bảo vệ ba trại. Chư tướng đều bảo Thủ Trinh là giặc cùng đường, phá dễ như chơi, không nên làm nhọc sức dân như thế, Uy không nghe. Sau đó Thủ Trinh nhiều lần xuất binh đánh phá lũy, Uy lại cho đắp vá ngay, Thủ Trinh cứ ra đánh thì lại có quân hao tổn. Lâu ngày, trong thành lương thực và binh lính đều cạn kiệt, Uy bảo: “Được rồi!”, bèn sửa soạn khí cụ công thành, hẹn ngày, bốn mặt cùng đánh, phá được la thành. Thủ Trinh cùng vợ con tự thiêu mà chết, bọn Tư Quán, Cảnh Sùng lần lượt ra hàng.
Ẩn Đế thưởng công Uy cái đai ngọc, gia phong Kiểm hiệu thái sư kiêm Thị trung. Uy từ chối: “Thần từng hầu phụng tiên đế, thấy công thần thì nhiều, nhưng chưa từng thấy ai được ban đai ngọc bao giờ.” Nhân đó lại nói: “Thần may được thống lĩnh quân ngũ, mượn oai linh nhà Hán mà phá giặc, đâu phải công riêng của thần, đều là nhờ các bậc tướng văn tướng võ, kẻ làm an triều đình, người vỗ yên trong ngoài, lại lo việc quân lương đúng lúc, nên thần mới có thể chuyên tâm việc chinh phạt.” Ẩn Đế cho Uy là người hiền, bèn triệu cả bọn Dương Mân, Sử Hoằng Triệu, Tô Phùng Cát, Vũ Khuê, Đậu Trinh Cố, Vương Chương vào ban cho đai ngọc, Uy mới chịu nhận.
Uy lại nhường công cho đại thần, xin gia tăng tước thưởng, vua bèn phong Trinh Cố làm Tư không, Phùng Cát làm Tư đồ, Vũ Khuê và Dương Mân làm Tả hữu bộc xạ. Sau Uy lại nói: “Đây chỉ là những cận thần nơi triều Hán thôi! Còn chư Tông thất nhà Hán, các trấn thiên hạ, ngoài đến Kinh Hồ [Kinh Nam], Chiết [Ngô/Việt], Hồ Nam [Sở] đều chưa được gì cả.” Do đó mà việc ban thưởng tràn lan khắp thiên hạ.
Mùa đông năm ấy, Khiết Đan xâm phạm biên giới, Uy lấy tư cách Khu mật sứ đem quân bắc phạt, đến Ngụy Châu thì giặc rút. Tháng hai năm thứ ba [950], đại quân trở về [kinh sư]. Tháng tư, vua phong Uy làm Nghiệp đô lưu thủ, Thiên Hùng quân tiết độ sứ, vẫn giữ chức Khu mật sứ trấn nhậm. Tể tướng Tô Phùng Cát cho rằng Khu mật sứ không thể kiêm lĩnh phiên trấn, cố tranh luận với bọn Sử Hoằng Triệu. Lâu sau, rốt cuộc Uy vẫn đem chức Khu mật sứ đi trấn nhậm, các châu Hà Bắc đều phải nghe Uy tiết chế.
Ẩn Đế cùng bọn Lý Nghiệp mưu toan, đã giết bọn Sử Hoằng Triệu, lại hạ chiếu cho Trấn Ninh quân tiết độ sứ là Lý Hoằng Nghĩa giết Thị vệ bộ quân chỉ huy sứ Vương Ân ở Thiền Châu, lại chiếu cho Thị vệ mã quân chỉ huy sứ Quách Sùng giết Uy và Tuyên huy sứ Vương Tuấn ở Ngụy. Chiếu thư đến Thiền Châu trước, Hoằng Nghĩa sợ việc không xong, ngược lại đem chiếu thư cho Vương Ân xem, Ân cùng Hoằng Nghĩa sai người báo cho Uy. Lát sau sứ giả mang chiếu giết Uy và Tuấn cũng phi ngựa đến, Uy giấu chiếu thư đi, gọi lại viên Khu mật sứ viện lại là Ngụy Nhân Phổ bàn mưu trong phòng ngủ. Nhân Phổ khuyên Uy làm phản, bày kế cho Uy lộn ngược ấn Lưu thủ, làm giả chiếu thư, nói rằng vua hạ chiếu bắt Uy tru di các tướng hiệu để khích nộ bọn họ. Các tướng hiệu [nghe xong] đều căm phẫn xin liều chết.
Ngày Đinh Sửu tháng mười một [5 tháng 12], Uy bèn dấy binh qua sông. Ẩn Đế sai Khai Phong phủ doãn Hầu Ích, Bảo Đại quân tiết độ sứ Trương Ngạn Siêu, Khách tỉnh sứ Diêm Tấn Khanh đem quân chống lại Uy, lại sai nội giám là Lưỡng Thoát đi do thám hướng quân Uy. Lưỡng Thoát bị Uy bắt được, Uy bèn mượn Thoát dâng biểu tâu xin trói bọn Lý Nghiệp giải đến trong quân. Ẩn Đế được biểu của Uy, đưa cho bọn Nghiệp xem, bọn Nghiệp đều nói cái mưu làm phản của Uy đã rõ rồi, vua bèn giết hết gia thuộc của Uy ở kinh sư.
Ngày Canh Thìn, Uy đến Hoạt Châu, Nghĩa Thành quân tiết độ sứ là Tống Diên Ác phản Hán ra hàng. Ngày Nhâm Ngọ, Uy phạm vào Phong Khâu. Ngày Giáp Thìn, đánh nhau với Thái Ninh quân tiết độ sứ là Mộ Dung Ngạn Siêu ở Lưu Tử Pha, Ngạn Siêu bại trận chạy về Duyện Châu. Quách Doãn Minh làm phản, giết Ẩn Đế ở Triệu Thôn. Ngày Bính Tuất, Uy vào kinh sư, [quân lính] phóng hỏa cướp bóc lớn. Ngày Mậu Tý, Uy dẫn bá quan đến yết kiến Thái hậu ở cửa Minh Đức, xin lập vua nối ngôi. Thái hậu hạ lệnh: “Văn võ bá quan, tướng hiệu sáu quân, bàn chọn người hiền minh để kế thừa đại thống.” Ngày Canh Dần, Uy dẫn bá quan đến cửa Minh Đức, xin lập Vũ Ninh quân tiết độ sứ là [Lưu] Mân làm người kế tự. Sai Thái sư Phùng Đạo đi đón Mân ở Từ Châu. Ngày Tân Mão, mời Thái hậu lâm triều thính chính, lấy Vương Tuấn làm Khu mật sứ, Hàn lâm học sĩ kiêm Thượng thư binh bộ thị lang Phạm Chất làm phó sứ.
Ngày Giáp Ngọ tháng mười hai [11 tháng 1 năm 951], Uy bắc phạt Khiết Đan, đóng quân ở Hoạt Châu. Ngày Quý Sửu, đến Thiền Châu thì quay lại. Vương Tuấn sai Quách Sùng đem bảy trăm quân kỵ đi đón Lưu Mân ở Tống Châu, giết đi; bộ tướng của Mân là Củng Đình Mỹ, Dương Ôn vì Mân mà giữ Từ Châu. Ngày Mậu Ngọ, Uy đến Cao Môn, Tể tướng nhà Hán là Đậu Trinh Cố, Tô Vũ Khuê đến khuyên tiến vị [lên ngôi]. Ngày Canh Thân, Thái hậu ra chế cho Uy làm Giám quốc.
Mùa xuân, tháng giêng năm Quảng Thuận thứ nhất, ngày Đinh Mão [13 tháng 2], Hoàng đế lên ngôi, đại xá thiên hạ, đổi niên hiệu, đặt quốc hiệu là Chu. Ngày Kỷ Tỵ, dâng tôn hiệu cho Hán Thái hậu là Chiêu Thánh Hoàng thái hậu. Ngày Mậu Dần, Lưu Sùng (em Hán Cao Tổ) nhà Hán tự lập ở Thái Nguyên. Ngày Kỷ Mão, lấy Phùng Đạo làm Trung thư lệnh. Tháng hai, ngày Tân Sửu, Đô đốc sứ Tây Châu Hồi Hốt đến. Ngày Đinh Mùi, Ngột Dục [Gia Luật Nguyễn] nước Khiết Đan sai sứ là Cốt Chi đến. Ngày Quý Sửu, tiết Hàn thực, làm lễ vọng tế ở Bồ Trì. Ngày Đinh Tỵ, Thượng thư tả thừa Điền Mẫn đi sứ sang Khiết Đan. Sứ giả Ma Ni nước Hồi Hốt đến. Tháng ba, ngày Giáp Tuất, Vũ Ninh quân tiết độ sứ Vương Ngạn Siêu đánh chiếm Từ Châu.
Mùa hạ, tháng tư, ngày Giáp Ngọ, lập phu nhân Đổng thị làm Đức phi. Tháng năm, ngày Tân Mùi, truy tôn tổ khảo làm “Hoàng đế”, tổ tỷ làm “Hoàng hậu”: Cao tổ tên Cảnh thụy là Duệ Hòa, miếu hiệu Tín Tổ, tổ tỷ Trương thị thụy Duệ Cung; Tằng tổ tên Thầm thụy Minh Hiến, miếu hiệu Hi Tổ, tổ tỷ Thân thị thụy Minh Hiếu; Tổ tên Uẩn thụy Dực Thuận, miếu hiệu Nghĩa Tổ, tổ tỷ Hàn thị thụy Dực Kính; Cha thụy Chương Túc, miếu hiệu Khánh Tổ, mẹ Vương thị thụy Chương Đức.
Tháng sáu, ngày Tân Hợi, lấy Phạm Chất và Hộ bộ thị lang phán tam tư là Lý Cốc làm Trung thư thị lang, Đồng trung thư môn hạ bình chương sự. Bãi chức Đậu Trinh Cố, Tô Vũ Khuê. Ngày Quý Sửu, Phạm Chất tham tri Khu mật viện sự. Ngày Đinh Tỵ, Tuyên huy bắc viện sứ Địch Quang Nghiệp làm Khu mật phó sứ. Mùa thu, tháng bảy, ngày Mậu Dần, vua ngự đến phủ đệ Vương Tuấn. Tháng tám, ngày Nhâm Dần, Khiết Đan cho đưa linh cữu Triệu Oanh về. Mùa đông, tháng mười, ngày Bính Ngọ, người Hán [Bắc Hán] đến đánh từ Tấn Châu. Tháng mười một, Vương Tuấn và Kiến Hùng quân tiết độ sứ Vương Ngạn Siêu chống cự. Tháng mười hai, Mộ Dung Ngạn Siêu làm phản.
Năm thứ hai, mùa xuân, tháng giêng, ngày Giáp Tý [5 tháng 2 năm 952], lấy Thị vệ bộ quân đô chỉ huy sứ Tào Anh làm Duyện Châu hành doanh đô bộ thự. Ngày Canh Ngọ, vua Cao Ly là Chiêu sai Quảng bình thị lang Từ Phùng đến. Tháng hai, ngày Canh Dần, Phủ Châu phòng ngự sứ Chiết Đức Y chiếm được Khả Lam quân. Tháng ba, ngày mồng một Đinh Tỵ, tiết Hàn thực, vọng tế ở ngoại ô. Ngày Mậu Thìn, Nội khách tỉnh sứ Trịnh Nhân Hối làm Khu mật phó sứ, bãi chức Địch Quang Nghiệp.
Mùa hạ, tháng năm, ngày Canh Thân [31 tháng 5], vua đông chinh, để Lý Cốc làm Lưu thủ Đông đô, Trịnh Nhân Hối làm Đại nội đô điểm kiểm. Ngày Quý Hợi, vua đến Tào Châu, tha cho tù nhân từ tội lưu trở xuống. Ngày Ất Hợi, chiếm Duyện Châu. Ngày Nhâm Ngọ, xá tội cho dân Duyện Châu. Tháng sáu, ngày mồng một Ất Dậu, vua đến Khúc Phụ, tế Khổng Tử. Ngày Canh Tý, từ Duyện Châu về đến [kinh sư]. Mùa thu, tháng chín, ngày Ất Sửu [3 tháng 10], Thái bộc thiếu khanh Vương Diễn đi sứ sang Cao Ly. Khiết Đan xâm phạm biên giới.
Năm thứ ba, mùa xuân, tháng giêng, ngày Ất Mão [21 tháng 1 năm 953], Thứ sử Lân Châu là Dương Trọng Huấn phản Hán, đến quy phụ. Tháng nhuận, ngày Bính Tuất, Độc Trình Tướng Ôn, sứ nước Hồi Hốt đến. Tháng hai, ngày Giáp Tý, giáng chức Vương Tuấn làm Thương Châu tư mã. Tháng ba, ngày Giáp Thân, phong [Sài] Vinh làm Tấn Vương. Ngày Bính Tuất, bãi chức Trịnh Nhân Hối. Ngày Kỷ Sửu, Đoàn luyện sứ Đệ Châu Vương Nhân Cảo làm Hữu vệ đại tướng quân, Khu mật phó sứ. Mùa hạ, tháng sáu, mưa to, lụt.
Mùa thu, tháng bảy, Lư Đài quân sứ nước Khiết Đan là Trương Tạng Anh đến hàng. Tháng chín, bọn Thổ Hồn Đảng Phú Đạt đến. Mùa đông, tháng mười, ngày Canh Thân, Phùng Đạo làm Phụng nghênh thần chủ sứ. Tháng mười một, ngày Quý Mùi, sứ Đảng Hạng là Ngô Thiếp Ma Ngũ Đẳng đến. Tháng mười hai, ngày Mậu Thân, thần chủ bốn miếu từ Tây Kinh về đến, vua đón ở ngoại ô phía tây, rước vào Thái miếu. Ngày Nhâm Thân, giết Thiên Hùng quân tiết độ sứ Vương Ân. Ngày Ất Hợi, làm lễ hưởng tế ở Thái miếu.
Năm Hiển Đức thứ nhất, mùa xuân, tháng giêng, ngày mồng một Bính Tý [6 tháng 2 năm 954], làm lễ tế Nam giao, đại xá, đổi niên hiệu, quần thần dâng tôn hiệu là Thánh Minh Văn Võ Nhân Đức Hoàng đế. Ngày Mậu Dần, bãi bỏ Nghiệp đô. Ngày Bính Tuất, Trấn Ninh quân tiết độ sứ Trịnh Nhân Hối làm Khu mật sứ. Ngày Nhâm Thìn, Đoan minh điện học sĩ, Hộ bộ thị lang Vương Phổ làm Trung thư thị lang, Đồng trung thư môn hạ bình chương sự; bãi chức Vương Nhân Cảo. Ngày hôm ấy, Hoàng đế băng ở điện Tư Đức.