Tân Ngũ Đại sử

Chương 4: Quyển 12

Khoảng 17 phút đọc · 3.653 chữ · Bôi đen một đoạn để bình luận hoặc chia sẻ

Thế Tông .mw-parser-output .template-kai{font-family:TH-Khaai-TP0,TH-Khaai-TP2,TH-Feon-A,楷体,KaiTi,楷体_GB2312,KaiTi_GB2312,FandolKai,华文楷体,STKaiti,TH-Khaai-PP0,TH-Khaai-PP2,Kai,BiauKai,"AR PL UKai CN",標楷體,DFKai-SB,"AR PL UKai HK","AR PL UKai TW",SimKai,全字庫正楷體,TW-Kai,EUDCKAI,cursive}.mw-parser-output .template-kai:lang(zh-hant),.mw-parser-output .template-kai:lang(zh-hk),.mw-parser-output .template-kai:lang(zh-mo),.mw-parser-output .template-kai:lang(zh-tw){font-family:標楷體,DFKai-SB,"AR PL UKai HK","AR PL UKai TW",BiauKai,Kai,全字庫正楷體,TW-Kai,TH-Khaai-PP0,TH-Khaai-PP2,TH-Khaai-TP0,TH-Khaai-TP2,TH-Feon-A,楷体,KaiTi,楷体_GB2312,KaiTi_GB2312,FandolKai,华文楷体,STKaiti,"AR PL UKai CN",EUDCKAI,cursive}世宗

Thế Tông Duệ Võ Hiếu Văn Hoàng đế [húy Vinh, 921–959], vốn họ Sài, người vùng Long Cương, Hình Châu. Con gái họ Sài lấy Thái Tổ [Quách Uy], tức là Thánh Mục Hoàng hậu. Vinh là con trai của Thủ Lễ, anh trai Hoàng hậu, thuở nhỏ theo cô lớn lên ở nhà Thái Tổ, nhờ tính cẩn trọng đôn hậu mà được yêu mến, Thái Tổ bèn nhận làm con. Sau này Thái Tổ hiển quý, Vinh cũng đã trưởng thành, dung mạo anh kỳ, giỏi cưỡi ngựa bắn cung, biết sơ lược sách sử và học thuyết Hoàng Lão, tính thâm trầm ít nói. Khi Thái Tổ làm Khu mật sứ nhà Hán, Vinh làm Tả giám môn vệ đại tướng quân. Đến khi Thái Tổ làm Thiên Hùng quân [tiết độ sứ], Vinh lĩnh chức Quý Châu thứ sử, Thiên Hùng quân nha nội đô chỉ huy sứ.

Mùa đông năm Càn Hựu thứ ba [950], quân Chu dấy lên ở Ngụy [Châu], phạm kinh sư, Vinh được lưu lại giữ đất Ngụy. Thái Tổ vào kinh lên ngôi, phong Vinh làm Thiền Châu thứ sử, Trấn Ninh quân tiết độ sứ, Kiểm hiệu thái phó, Đồng trung thư môn hạ bình chương sự. Vinh vốn bị Khu mật sứ Vương Tuấn ghen ghét, tháng giêng năm Quảng Thuận thứ ba [953] vào triều, không được ở lại. Sau Tuấn có tội bị giết, tháng ba, phong Vinh làm Khai Phong phủ doãn, tước Tấn Vương. Mùa đông năm ấy, bói được quẻ nói ngày mồng một tháng giêng năm sau nên tế Nam giao, nhưng Thái Tổ gặp bệnh, không thể coi chầu đã lâu.

Tháng giêng năm Hiển Đức thứ nhất, ngày Bính Tý [6 tháng 2 năm 954], làm lễ tế giao, vừa mới xong lễ, vua [Thái Tổ] bèn giao cho Vương [Vinh] phán việc binh mã trong ngoài. Ngày Nhâm Thìn, Thái Tổ băng, việc tang còn giấu kín. Ngày Bính Thân, phát tang, Hoàng đế lên ngôi ngay trước linh cữu. Trong sử chép phong Tấn Vương, là để chính danh rằng không phải con ruột. Còn những việc khác làm lễ như con kế tự, không đợi phải chê bai cũng tự biết là trái lễ, nên không có lời bàn khác. Hữu giám môn vệ đại tướng quân Ngụy Nhân Phổ làm Khu mật phó sứ.

Tháng hai, ngày Canh Tuất [12 tháng 3], Hồi Hốt sai sứ đến. Ngày Đinh Mão, Phùng Đạo làm Đại hành hoàng đế sơn lăng sứ, Thái thường khanh Điền Mẫn làm Lễ nghi sứ. Binh bộ thượng thư Trương Chiêu làm Lỗ bộ sứ, Ngự sử trung thừa Trương Hú làm Nghi trượng sứ, Khai Phong thiếu doãn quyền phán phủ sự Vương Mẫn làm Kiều đạo đốn đệ sứ. Người Hán [Bắc Hán] đến đánh, tấn công từ Lộ Châu. Tháng ba, ngày Tân Tỵ, đại xá thiên hạ.

Ngày Quý Mùi [12 tháng 4], Trịnh Nhân Hối làm Lưu thủ Đông Kinh. Ngày Ất Dậu, vua đến Lộ Châu để đánh quân [Bắc] Hán. Không dùng chữ "phạt" (thảo phạt), vì cái lý chưa thẳng về phía nước Chu, không thể lấy lớn nhỏ mà nói, nên dùng chữ "hai bên cùng đánh" để chép. Ngày Nhâm Thìn, đóng quân ở Trạch Châu, duyệt binh ở ngoại ô phía bắc. Ngày Quý Tỵ, đánh nhau với Lưu Mân ở Cao Nguyên, đánh bại được, Chấp nhận việc Mân không khuất phục nước Chu, nhưng không chấp nhận việc Mân xưng đế, nên chép tên họ; đuổi đến Cao Bình, lại đánh bại nữa. Ngày Đinh Dậu, vua đến Lộ Châu. Ngày Kỷ Hợi, Thị vệ mã quân đô chỉ huy sứ Phàm Ái Năng, Bộ quân đô chỉ huy sứ Hà Huy bị giết. Ngày Nhâm Dần, phong Thiên Hùng quân tiết độ sứ Phù Ngạn Khanh làm Hà Đông hành doanh đô bộ thự.

Mùa hạ, tháng tư, ngày Ất Mão [16 tháng 5], táng Thần Thánh Văn Võ Cung Túc Hiếu Hoàng đế ở Tung lăng. Ở huyện Tân Trịnh, Trịnh Châu. Phòng ngự sứ Phần Châu là Đổng Hy Nhan phản Hán sang quy phụ. Ngày Bính Thìn, Thứ sử Liêu Châu Trương Hán Siêu phản Hán sang quy phụ. Ngày Tân Dậu, lấy được hai châu Lam, Hiến. Ngày Nhâm Tuất, lập Vệ Quốc phu nhân Phù thị làm Hoàng hậu. Lấy được hai châu Thạch, Thấm. Ngày Ất Sửu, Phùng Đạo mất. Ngày Canh Ngọ, tha cho tù nhân Lộ Châu từ tội lưu trở xuống. Vua đến Thái Nguyên. Giám quân Hân Châu là Lý Kình giết Thứ sử Triệu Cao, phản Hán sang quy phụ.

Tháng năm, ngày Bính Tý [6 tháng 6], Thủ tướng Đại Châu là Trịnh Xử Khiêm phản Hán sang quy phụ, Khiết Đan cứu Hán. Ngày Đinh Dậu, sứ giả Hồi Hốt là Nhân Nạn Địch Lược đến. Phù Ngạn Khanh cùng Khiết Đan đánh nhau ở Hân Khẩu, thua to, Tiên phong đô chỉ huy sứ Sử Ngạn Siêu tử trận. Tháng sáu, ngày Ất Tỵ, rút quân. Ngày Ất Sửu, đóng ở Tân Trịnh, bèn vào bái yết Tung lăng. Ngày Canh Ngọ, từ Thái Nguyên về đến [kinh sư].

Mùa thu, tháng bảy, ngày Canh Thìn [9 tháng 8], xem gặt lúa ở Nam Ngự trang. Ngày Quý Tỵ, Khu mật viện trực học sĩ, Công bộ thị lang Cảnh Phạm làm Trung thư thị lang, Đồng trung thư môn hạ bình chương sự; Ngụy Nhân Phổ làm Khu mật sứ. Mùa đông, tháng mười, ngày Giáp Thìn, giết Tả vũ lâm đại tướng quân Mạnh Hán Khanh.

Năm thứ hai, mùa xuân, tháng hai [955], Loạn thế Ngũ Đại, lấy thân phận con nối ngôi cha chỉ có năm người, mà không đổi niên hiệu theo phép cổ có bốn: Lương Mạt Đế, Tấn Xuất Đế lên ngôi quá một năm, đáng lẽ phải đổi mà không đổi, năm sau nữa mới đổi; Hán Ẩn Đế, Chu Thế Tông đều vẫn dùng niên hiệu của Tiên đế, trọn đời không đổi, Bản Kỷ không chê trách gì, chỉ chép sự thực, để tự thấy cái sai vậy, vua đích thân viết trát cầu lời nói thẳng. Mùa hạ, tháng năm, ngày Tân Mùi, Tuyên huy nam viện sứ Hướng Huấn, Tiết độ sứ Phượng Tường Vương Cảnh đánh nước Thục. Ngày Giáp Tuất, phá hủy số lượng lớn chùa Phật, cấm dân không có người thân phụng dưỡng mà đi tu làm tăng ni, và cấm tự ý độ điệp. Mùa thu, tháng chín, ngày mồng một Bính Dần, ban lệnh cấm đồng. Tháng nhuận, ngày Quý Sửu, Hướng Huấn bình định Tần Châu. Mùa đông, tháng mười, ngày Tân Mùi, lấy được Thành Châu. Ngày Mậu Dần, Vương tử Cao Ly là Thái tướng Dung đến. Lấy được Giai Châu. Tháng mười một, ngày mồng một Ất Mùi, Lý Cốc làm Hoài Nam đạo hành doanh đô bộ thự để đánh nước [Nam] Đường. Ngày Mậu Thân, Vương Cảnh thu hồi Phượng Châu. Tháng mười hai, ngày Bính Tuất, Trịnh Nhân Hối mất.

Năm thứ ba, mùa xuân, tháng giêng [956], đắp thêm kinh thành. Ngày Canh Tý, Hướng Huấn làm Lưu thủ Đông Kinh. Ngày Nhâm Dần, vua nam chinh. Ngày Tân Hợi, Thị vệ thân quân đô chỉ huy sứ Lý Trọng Tiến đánh nhau với người Đường ở Chính Dương, phá được. Ngày Giáp Dần, Trọng Tiến làm Hoài Nam đạo hành doanh đô chiêu thảo sứ. Tháng hai, ngày Bính Dần, vua đến cầu phao Hạ Thái. Ngày Nhâm Thân, lấy lại Trừ Châu. Ngày Giáp Tuất, [vua Nam Đường] Lý Cảnh đến cầu hòa, không trả lời. Ngày Nhâm Ngọ, Cảnh sai bầy tôi là Chung Mô dâng biểu. Ngày Bính Tuất, lấy được Dương Châu. Ngày Tân Mão, lấy được Thái Châu. Tháng ba, ngày Canh Tý, Nội ngoại mã bộ quân đô quân đầu Viên Ngạn làm Trúc Long đô bộ thự. Tháng này, lấy được ba châu Quang, Thư, Thường. Chép "tháng này" nhằm thể hiện việc lấy ba châu không diễn ra trong cùng một ngày.

Mùa hạ, tháng tư, Thường Châu, Thái Châu lại lọt vào tay nước Đường. Tháng năm, ngày Ất Mão [4 tháng 7], vua từ Hoài Nam về đến, xá tội tù nhân kinh sư. Tháng sáu, ngày Nhâm Thân, hạ chiếu đức âm xá tội tù nhân Hoài Nam. Mùa thu, tháng bảy, Hoàng hậu băng. Dương Châu, Quang Châu, Thư Châu, Trừ Châu lại lọt vào tay nước Đường. Tháng tám, ngày Ất Sửu, bắt dân trồng cây và rau hẹ. Tháng chín, ngày Bính Ngọ, Đoan minh điện học sĩ, Tả tản kỵ thường thị Vương Phác làm Thượng thư hộ bộ thị lang, Khu mật phó sứ. Mùa đông, tháng mười, ngày Tân Dậu [7 tháng 11], táng Tuyên Ý Hoàng hậu ở Ý lăng. Tháng mười một, ngày Canh Dần, phá bỏ các đền miếu không nằm trong tự điển. Ngày Ất Tỵ, giết bề tôi của Lý Cảnh là Tôn Thạnh. Chép "giết bề tôi của Cảnh" mà không chép Thạnh chết, là đã buộc tội nước Chu giết trung thần rất nặng, thì cái tiết tháo chết vì nghĩa của Thạnh tự nhiên rõ rệt.

Năm thứ tư, mùa xuân, tháng giêng, ngày mồng một Kỷ Sửu [3 tháng 2 năm 957], ban lệnh ân xá cho tù nhân, ngoại trừ tử tù. Tháng hai, ngày Giáp Tuất, Vương Phác làm Lưu thủ Đông Kinh. Ngày Ất Hợi, vua nam chinh. Tháng ba, ngày Đinh Mùi, lấy lại Thọ Châu. Không chép Lưu Nhân Thiệm hàng, việc được chép ở truyện "Tử tiết". Vì Nhân Thiệm thực không hàng, nên chép là phía quân Chu tự lấy lại thôi. "Khắc" là tên gọi việc khó lấy, Thọ Châu khó lấy thì thấy tiết tháo của Nhân Thiệm rõ rệt, không chép "chết vì việc ấy" là vì Nhân Thiệm tự ốm chết, nhưng vì ông ta giữ tiết đến chết, nên liệt vào truyện Tử tiết. Mùa hạ, tháng tư, ngày Kỷ Tỵ, vua từ Thọ Châu về đến. Ngày Kỷ Mão, thả tám trăm hàng binh về nước Thục. Ngày Quý Mùi, truy sách Bành Thành quận phu nhân Lưu thị làm Hoàng hậu. Tháng năm, ngày Bính Thân, giết Mật Châu phòng ngự sứ Hầu Hy Tiến.

Mùa thu, tháng tám, ngày Ất Hợi [17 tháng 9], bãi chức Lý Cốc, lấy Vương Phác làm Khu mật sứ. Ngày Quý Mùi, người Thục trả lại Thứ sử Bộc Châu là Hồ Lập. Mùa đông, tháng mười, ngày Kỷ Tỵ, Vương Phác làm Lưu thủ Đông Kinh, Tam tư sứ Trương Mỹ làm Đại nội đô điểm kiểm. Ngày Nhâm Thân, vua nam chinh. Tháng mười hai, ngày Ất Mão, thủ tướng Tứ Châu là Phạm Tái Ngộ phản nước Đường, đem châu ấy đến hàng. Ngày Canh Thân, Hào Châu đoàn luyện sứ Quách Đình Vị đem châu ấy đến hàng. Thân ở đất ấy mà đến hàng thì chép là "phụ" (theo về), Tái Ngộ, Đình Vị tuy đem đất hàng, nhưng hàng xong không ở đất ấy nữa, nên không chép "phụ" mà chép "hàng". Đình Vị không chép là "phản", việc thấy ở thế gia Nam Đường. Ngày Đinh Sửu, lấy được Thái Châu.

Năm thứ năm, mùa xuân, tháng giêng, ngày Đinh Hợi [27 tháng 1 năm 958], lấy được Hải Châu. Ngày Nhâm Thìn, lấy được Tĩnh Hải quân. Ngày Đinh Mùi, lấy lại Sở Châu, thủ tướng Trương Ngạn Khanh, Trịnh Chiêu Nghiệp chết vì việc ấy. Từ ngày Tân Dậu tháng 12 năm thứ tư đánh châu ấy, bọn Ngạn Khanh kiên thủ hơn bốn mươi ngày mới khắc phục được, cái sự không chạy không hàng đã rõ, nên khen cái chết ấy. Bản kỷ chép người "chết" hơn mười người, Tống Lệnh Tuân và Lý Hà, Ngạn Khanh, Chiêu Nghiệp đều vì sự tích không đầy đủ nên không lập truyện. Nhưng cái đáng quý là ở chỗ chết, Bản kỷ ghi cái đại tiết ấy là đủ rồi. Tháng hai, ngày Giáp Dần, lấy được Hùng Châu. Ngày Đinh Mão, vua đến Dương Châu. Ngày Quý Dậu, đến Qua Châu. Tháng ba, ngày mồng một Nhâm Ngọ, đến Thái Châu. Ngày Đinh Hợi, lại đến Dương Châu. Ngày Tân Mão, ngự ở bến Nghênh Loan. Ngày Kỷ Hợi, khắc phục mười bốn châu Hoài Nam, lấy sông Giang làm ranh giới. Tính cả những châu lấy được trước đó là mười bốn châu, chép rõ để thấy chí hướng vua dừng ở đó. Tháng ba, ngày Tân Hợi, Lý Cảnh sai sứ đến xin (mua yến) khao quân. Tháng tư, ngày Canh Thân, rước thần chủ năm thất vào miếu mới. Ngày Nhâm Thân, vua từ Hoài Nam về đến, Hồi Hốt, Đạt Đát sai sứ đến. Tháng sáu, ngày Tân Mùi, thả bốn nghìn sáu trăm hàng binh về nước Đường.

Mùa thu, tháng bảy, ngày Ất Dậu (24 tháng 7), Thủy bộ viên ngoại lang Hàn Ngạn Khanh đi mua đồng ở Cao Ly. Ngày Đinh Hợi, ban hành bản đồ quân điền. Tháng chín, Quốc vương Chiêm Thành là Thích Lợi Nhân Đức Man sai sứ là Phổ Ha Tán đến. Mùa đông, tháng mười, ngày Đinh Dậu, kiểm kê tô thuế của dân. Tháng mười một, ngày Canh Tuất, soạn Thông lễ, Chính nhạc. Tháng mười hai, ngày Bính Tuất, bãi bỏ các hộ làm khóa dịch và bổng lộc cho châu huyện.

Năm thứ sáu [959], mùa xuân, tháng giêng, vua Cao Ly là Chiêu sai sứ đến. Ngày Tân Dậu, sứ Nữ Chân là A Biện đến. Tháng ba, ngày Kỷ Dậu, Hồi Hốt ở Cam Châu đến dâng ngọc, vua từ chối. Ngày Canh Thân, Vương Phác mất. Ngày Bính Dần, Tuyên huy nam viện sứ Ngô Diên Tộ làm Lưu thủ Đông Kinh. Ngày Quý Dậu, đình chỉ cấp cá đồng (ngư phù). Ngày Giáp Tuất, vua bắc chinh. Tháng này, Ngô Diên Tộ làm Tả kiêu vệ thượng tướng quân, Khu mật sứ. Mùa hạ, tháng tư, ngày Nhâm Thìn, lấy được Càn Ninh quân. Ngày Tân Sửu, lấy được cửa quan Ích Tân, lập làm Bá Châu. Ngày Quý Mão, lấy được Ngõa Kiều quan, lập làm Hùng Châu. Việc bỏ hay lập châu huyện không chép, chỗ này chép là vì coi trọng việc khôi phục đất cũ của Trung Quốc. Thế Tông hạ ba quan, Ngõa Kiều, Ích Tân vì lập châu nên thấy chép, quan Ù Khẩu chỉ lập trại, nên cựu sử, thực lục đều thiếu không chép, thành ra không thấy ngày tháng lấy được, nay là Tín An quân vậy. Tháng năm, ngày mồng một Ất Tỵ, lấy được Doanh Châu. Khôi phục đất cũ Trung Quốc, nên không chép là "Khiết Đan". Ngày Giáp Tuất, vua từ Hùng Châu về đến. Tháng sáu, ngày Quý Mùi, lập Hoàng hậu Phù thị Phù thị không có tước quốc phu nhân, không chép là "lập Phù thị làm Hoàng hậu", sợ giống với việc không chính đáng. Vì ngôi vị định trước rồi mới cưới, nên chép là "lập Hoàng hậu Phù thị", văn lý phải thế, không có khen chê gì cả, phong con là Tông Huấn làm Lương Vương, Tông Nhượng làm Yên Quốc công. Ngày Mậu Tý, sứ Chiêm Thành là Phổ Ha Tán đến. Ngày Kỷ Sửu, Phạm Chất, Vương Phổ tham tri Khu mật viện sự, Ngụy Nhân Phổ làm Đồng trung thư môn hạ bình chương sự. Ngày Quý Tỵ, Hoàng đế băng ở điện Tư Đức. Hưởng dương ba mươi chín tuổi.

Cung Đế 恭帝

Cung Đế, húy Tông Huấn [953–973], là con thứ tư của Thế Tông. Khi Thế Tông lên ngôi, đại thần xin phong hoàng tử làm vương, Thế Tông khiêm nhường từ chối mãi. Đến khi bắc phạt lấy được ba quan, gặp bệnh trở về kinh sư, mới phong Tông Huấn làm Lương Vương, lúc ấy bảy tuổi.

Năm Hiển Đức thứ sáu, tháng sáu, ngày Quý Tỵ, Thế Tông băng. Ngày Giáp Ngọ, Hoàng đế lên ngôi trước linh cữu. Ngày Quý Mão, Phạm Chất làm Đại hành hoàng đế sơn lăng sứ, Hàn lâm học sĩ Đậu Nghiễm làm Lễ nghi sứ, Binh bộ thượng thư Trương Chiêu làm Lỗ bộ sứ, Ngự sử trung thừa Biên Quy Đảng làm Nghi trượng sứ, Tuyên huy nam viện sứ phán Khai Phong phủ sự Tảm Cư Nhuận làm Kiều đạo đốn đệ sứ. Mùa thu, tháng bảy, ngày Đinh Mùi, Hộ bộ thượng thư Lý Đào làm Sơn lăng phó sứ, Độ chi lang trung Lư Ức làm Phán quan. Tháng tám, ngày Canh Dần [22 tháng 9], phong em là Hy Nhượng làm Tào Vương, Hy Cẩn làm Kỷ Vương, Hy Hối làm Kỳ Vương. Ngày Nhâm Dần, Cao Ly sai sứ đến. Tháng chín, ngày Bính Dần, Tả kiêu vệ đại tướng quân Đới Giao đi sứ sang Cao Ly. Mùa đông, tháng mười một, ngày Nhâm Dần, táng Duệ Võ Hiếu Văn Hoàng đế ở Khánh lăng Ở huyện Quản Thành, Trịnh Châu. Cao Ly sai sứ đến.

Năm thứ bảy, mùa xuân, tháng giêng, ngày Giáp Thìn [3 tháng 2 năm 960], vua nhường ngôi. Nhà Tống hưng khởi. Năm đời diệt vong, chép chữ khác nhau, tùy việc mà đặt văn. "Lương vong" để thấy nhà Đường [Hậu Đường] dấy lên nhanh, "Hán vong" để thấy nhà Chu dấy lên chậm. Đường lừa thiên hạ là đi đánh giặc, Chu lừa thiên hạ là lập Lưu Mân. Cho nên chép "Lương vong", thấy nhà Đường lập nhanh, thì biết chí không phải ở chỗ đánh giặc; "Hán vong" thấy nhà Chu lập chậm, thì biết việc lập Lưu Mân là giả dối. Đường vong không có lời gì, vì Trang Tông bị giết thì Đường đã vong rồi, mà Minh Tông lại xưng Đường; Mẫn Đế chạy trốn thì Đường lại vong rồi, mà Phế Đế lại xưng Đường; cái sự vong ấy không thể chép lặp đi lặp lại mãi, nên không chép. Tấn vong thì chép "Khiết Đan diệt Tấn", nói rõ để răn đe sâu sắc. Chu vong thì chép "Nhường ngôi", nhường là thuận, có thể thuận theo thiên mệnh vậy.

Lời bàn của Âu Dương Tu

Than ôi, Ngũ Đại bản kỷ đủ rồi! Đủ, là nói chuyện tang loạn, không gì không có. Chuyện vua tôi, kể sao cho xiết. Lương có Hữu Khuê làm phản, Đường giết Khắc Ninh lại giết Tồn Nghệ, Tòng Xán, thì cái ân cha con cốt nhục còn lại bao nhiêu mà chẳng tuyệt! Thái phi mất mà bỏ chầu, lập Lưu thị, Phùng thị làm Hoàng hậu, thì cái nghĩa vợ chồng còn lại bao nhiêu mà chẳng trái luân thường như cầm thú! Lễ Hàn thực tế dã ngoại mà đốt tiền giấy, đang có tang đổi niên hiệu mà dùng nhạc, giết Mã Diên và Nhâm Hoàn, thì lễ nhạc hình chính còn lại bao nhiêu mà chẳng hư hoại! Đến như cúng tế ở núi Lôi, truyền mũi tên mà đánh bạc ngựa, thì Trung Quốc còn lại bao nhiêu mà chẳng thành di địch! Thật đáng gọi là loạn thế vậy!

Tuy nhiên, Thế Tông trong khoảng năm sáu năm ngắn ngủi, lấy Tần Lũng, bình Hoài Hữu, khôi phục ba quan, tiếng tăm uy vũ chấn động cả Di Hạ, mà trong nước thì mời kẻ sĩ nho học văn chương, khảo xét chế độ, sửa Thông lễ, định Chính nhạc, bàn Hình thống, phép tắc chế tác ấy đều có thể thi hành cho đời sau. Con người ông minh đạt anh quả, nghị luận vĩ đại. Lên ngôi năm sau, phá hủy ba nghìn ba trăm ba mươi sáu chùa Phật trong thiên hạ. Lúc ấy Trung Quốc thiếu tiền, bèn chiếu cho đem tượng Phật bằng đồng trong thiên hạ ra đúc tiền, từng nói: "Ta nghe Phật nói coi thân xác đời người là hư vọng, mà lấy việc lợi người làm gấp, nếu chân thân còn tại thế, mà có lợi cho đời, còn muốn cắt xẻo thay, huống hồ cái tượng đồng này, có gì mà tiếc!". Do đó quần thần đều không dám nói gì. Từng đọc sách đêm, thấy bản đồ Quân điền của Nguyên Chẩn đời Đường, khái nhiên than rằng: "Đây là cái gốc để trị nước, chính sự của vương giả bắt đầu từ đây!". Bèn chiếu ban hành phép bản đồ ấy, khiến lại dân tập cho biết trước, hẹn một năm sẽ chia đều ruộng đất trong thiên hạ, cái chí ý quy mô ấy há phải nhỏ đâu! Khi đánh Nam Đường, hỏi Tể tướng Lý Cốc kế sách; sau khắc phục Hoài Nam, lấy sớ của Cốc ra, sai Học sĩ Đào Cốc làm bài tán, đựng trong túi gấm, thường để bên chỗ ngồi, cái tài anh vũ ấy thật là hùng kiệt. Đến như việc hư tâm nghe lời can, dùng người không nghi ngờ, há chẳng phải là bậc hiền chủ sao!

Việc bắc phạt lấy ba quan, binh không dính máu, mà sử gia còn chê là coi nhẹ xã tắc, cầu may một trận thắng lúc vội vàng, mà chẳng biết rằng ông đã liệu tính mạnh yếu, so sánh ta người mà nhân lúc Thuật Luật [Thái hậu Khiết Đan] nguy khốn, nắm lấy cơ hội không thể mất, việc này nếu không phải bậc sáng suốt quyết thắng thì ai làm nổi? Thật chẳng phải chỗ mà sử quan thấy tới được vậy!

Hết chương 4

Chương sauQuyển 52

Đọc chương 5 →

Bình luận về truyệnTrang truyện