Tiền căn báo hậu

Chương 20: XIX

Khoảng 15 phút đọc · 3.319 chữ · Bôi đen một đoạn để bình luận hoặc chia sẻ

TIỀN-CĂN BÁO-HẬU

前根報後

Bá-tước Mông-tê Cà-rít-tô sự tích

(của ông Alexandre DUMAS cha soạn)

Traduit par

CUỐN THỨ NĂM

In lần đầu 1000 cuốn

Giá mỗi cuốn...... 0 $ 30

(Cấm không được in theo nguyên bổn)

Sách nào không đóng con dấu sau đây là sách gian chẳng nên mua.

XIX

Bệnh xung lần thứ ba

Nay Cao-tăng đã trối hầm vàng ấy cho con nuôi rồi, bèn yên tâm, hằng ngày cứ đàm đạo, cắc nghĩa cho Đăn-tết biết rằng: đời nay kẻ còn xuân xanh mà có được 13, 14 triệu quan tiền vậy thì dể bề làm phước vô cùng.

Đăn-tết nghe vậy bèn châu mày vì trong lòng đã thề quyết không chung đội trời với kẻ thù đã nhẫn tâm hãm hại mình bấy lâu, bèn nghĩ thầm trong lòng rằng: đời nay có được 13, 14 triệu quan tiền như thế thì rất dể bề báo thù cho đã nư.

Vốn Cao-tăng tự thuở nay không biết hòn vô chủ Mông-tê-cà-rít-tô đó ở đâu, chớ Đăn-tết khi trước thường hay chạy tàu qua lại nơi đó. Cù-lao ấy ở giữa chừng, bên nay có cù-lao Cọt, bên kia có cù-lao En-bờ. Hòn ấy là một khối đá to, trơ trơ giữa biển, dường ở dưới đáy biển nhờ hơi hỏa-diêm-sơn thổi trồi lên. Đăn-tết bèn vẻ bông đồ cho Cao-tăng xem, thì Cao-tăng chĩ bão cho Đăn-tết cách thế đặng sau có đi tìm hầm vàng cho dể.

Tuy Đăn-tết nay hết nghi cho Cao-tăng là điên cuồn mặc lòng, chớ trong lòng còn ngại một nổi là sợ cũa ấy hoặc mơ màng, hoặc chúng đã đào lấy trước đi rồi.

Như vậy mà dường như trời muốn đoãn lộc hai thầy trò, thình lình có lịnh quan sai sữa soạn tu bổ cái hiên ngoại lại, cẫn đá lại rất nên chắc chắn; mà cũng may cho thầy trò chút, nếu Đăn-tết không tiên liệu mà lấp cái lổ ngách đã đào ra hiên ngoài đó, thì nay chắc mưu kế thầy trò đã bại lộ rồi, thì chi cho khỏi quan bắt dang ra xa, thì sẻ thầy nam trò bắc.

Đăn-tết thấy vậy bèn than với Cao-tăng rằng:

— Tôn-sư có thấy chăng, trời đành đoãn mạng tôi rồi. Tôi đã hứa sẻ ở đây với thầy cho đến khi nào thầy qua đời rồi tôi mới vược ngục, mà nay cớ sự như vậy, thì biết chừng nào tôi ra khỏi đây được mà đi lấy hầm vàng.

Nay hầm vàng mà tôi lấy làm quí hơn hết bây giờ đây là Tôn-sư đó, cùng là cuộc thầy trò mình đạm bạc hủ hỉ nhau trong chốn trầm luân nầy, vì tuy ngục-tốt gìn giữ khít riêm mặc lòng mà thầy trò chúng ta mổi ngày gặp nhau được 5, 6 giờ đồng hồ đặng thầy đam hết cái sở học cũa thầy mà trúc lần vào óc trò, đặng trò học các thứ tiếng, rồi tự nhiên nó trổ lần thêm hay hoài. Các việc trí thức ấy thầy đã truyền cho con đó quã thiệt là hầm vàng vậy. Các việc ấy giá đáng vàng ròng muôn tạ, ngọc tốt ngàn xe, nên xin Tôn-sư hãy vui lòng cùng đệ-tữ, chớ khá tiếc cũa đời mà làm chi, vì là cũa phù vân, chẳng khác nào như chòm mây bạc, vẫng vơ trên mặt biển chưn trời, tàu ở xa xem tưởng là một thế giái kia, chừng lại gần, thảy đều tan đâu mất, chã thấy chi ráo. Tôn-sư sống được ngày nào, thì đồ-đệ mừng ngày nấy, quá nhứt nhựt, đắc nhứt nhựt, quá nhứt thời, đắc nhứt thời, trí khôn con đặng lời Tôn-sư dạy bảo mà đơm huê trổ nhụy, thần hồn cũa con và thân thể con đặng nhờ Tôn-sư trau dồi, sau ra mà ăn chịu với đời, Tôn-sư đã dọn chông gai đặng con tìm đàng cã, vẹt mây móc cho con thấy trời xanh. Bao nhiêu đó đũ làm cho con nhiệt thành, không còn ngã lòng rũng chí nữa. Cái cuộc như rứa quã là tài sản cũa con, mà tài sản chắc chắn, không mơ màng như hầm vàng ở hòn vô chủ. Tài sản ấy con nhờ thầy lưu truyền, vương-đế thế gian, dẩu là hôn-quân tàng bạo như Hoàng-đế Bọt-gia, cũng không sao đoạt tài sản ấy được bao giờ. »

Thầy trò nhẫn nại được như thế, tuy chẳng được vui sướng như kẻ tự do ở ngoài, chớ ngày giờ chạy mau như ngựa qua cữa sổ. Khi trước một mình ở chốn tối tăm, chẳng biết than thở tỏ vẻ tâm sự cùng ai, nay có kẻ tri âm rồi, chẳng khác nào Bá-nha gặp Tữ-kỳ, Cao-tăng bèn đem hết tâm sư, đem hết tư sầu mà tỏ nổi khúc nôi với đồ-đệ, và luận cách lấy hầm vàng.

Cao-tăng vẫn đã tiên liệu mà nay thiệt quã như vậy, là bệnh xung nó làm cho đó bại xuội cánh tay mặt và cái chưn trái, hết trông ra khỏi ngục nầy, song cũng vui lòng an phận, vì đồ-đệ chẳng kíp thì chầy sẻ được hưởng bóng quang âm như mọi người trong trần vậy.

Cao-tăng sợ e có ngày cái tờ chúc ngôn cũa ông Xì-bá-đa lạt mất chăng, nên Cao-tăng dạy Đăn-tết phãi đọc thuộc lòng, thì Đăn-tết nay nhớ không sót một nét. Cao-tăng bèn đốt bỏ miếng giấy thứ nhì lập câu lại đó, ấy là cuộc dự phòng, dẩu sau ai có lượm được miếng kia, thì sẻ chẳng hiểu gì ráo. Lại nhiều khi Cao-tăng chĩ bảo, cho Đăn-tết cả giờ, cách đi tìm hầm vàng, đặng sau ra ngoài thì dể bề lui tới, hể ra ngoài được thì Đăn-tết chi cho khỏi sẻ mau chưn đi đến hòn vô chủ mà tìm cũa báu, hoặc thừa dịp chi mà ở lại đó một mình, đặng đi kiếm cho ra mối, mà chư khán quan còn nhớ, trong tờ chúc ngôn nói hầm vàng ở trong góc xa cữa han thứ nhì.

Nay chưa ra được thì thầy trò cứ việc đàm đạo với nhau, đặng tiêu khiển ngày giờ. Tuy Cao-tăng bán thân bất toại, chớ trí hóa càng ngày lại càng minh mẫn. Chẳng những là Cao-tăng dạy Đăn-tết biết cách trí cách ngôn, thạo nhơn tình thế thái mà thôi đâu, thầy còn dạy trò học làm đồ khí dụng để xài trong khám. Khi cùng nhau đàm đạo, thì lòng yên trí vững, quên việc hậu lai. Song lúc khám ai nấy về thì chừng ấy đàng nào cũng mơ ước cho mau toại chí.

Một đêm kia Đăn-tết vùng thức giấc, dường như có tiếng tôn-sư kêu vậy, bèn mở mắt mà ráng xem, lóng tai ráng nghe, liền có tiếng kêu bên mình văng vẳng, Đăn-tết lật đật ngồi dậy, mồ hôi rịn tráng, vì có lòng lo sợ cho tôn-sư, bèn lóng tai nghe rỏ thiệt là tôn-sư kêu mình, Đăn-tết và xô giường và than rằng:

— Trời ôi... nở hại thầy tôi!

Chừng chun qua tới khám Cao-tăng thì nhờ ngọn đèn leo lét cũa Cao-tăng thấp mà thấy thầy mình đang đứng vịn giường mà rên, mặt mày biến sắc, Cao-tăng biết chứng bệnh cũa mình rồi, thì trong lòng hết sức lo sợ. Khi thấy Đăn-tết, liền nói rằng:

— Con ôi! con thấy thì hiểu, không cần gì thầy phải nói ra.

Đăn-tết nghe thấy tình hình, bèn hoảng vía vùng chạy lại gần cữa la kêu thiên hạ lại cứu.

Cao-tăng tuy tâm thần tán loạn mà còn đủ sức kéo Đăn-tết lại bảo rằng:

— Con sao rối vậy! Thân thầy chẳng quảng, nay mai gì đây cũng phải chết. Con phải nhớ lấy phận con, con còn phải chịu khổ nhiều năm mới ra khỏi khám nầy, nếu ngục-tốt nó hay đặng công cuộc nầy, thì con khó bề day trở. Vã lại khi thầy chết rồi, thì chẳng phải khám nầy bỏ không đâu, họ sẻ đem người khác nhốt vào đây, thì con sẻ trở nên ân-công người ấy. Có lẻ người ấy còn trẻ, có đủ sức mà giao cật cùng con đặng dĩ đào vi thượng sách. Chí như cha nay liệt lào thì là một đều gây trở cho con đó mà thôi. Nay cha thấy rỏ ý Chúa còn thương con, cho cha lâm cơn bệnh, hầu sớm vào dị lộ, đặng con rảnh chưn mà co dũi, thì tuy con mất cha, mà con được bề thông thả.

— Tôn-sư ôi là Tôn-sư! Tính chi những việc tha cầu. Kỳ trước con đã cứu cha một lần, nay con sẻ ráng cứu cha lần nữa.

Nói rồi bèn giở chưn giường lấy ve thuốc đỏ còn được một phần ba, giơ cho thầy mà nói rằng:

— Xin Tôn-sư dạy bảo phải làm sao.

— Con ôi! Thầy biết chẳng còn trông cậy gì nữa được. Nhưng vậy theo ý Chúa định, ta phải ráng sức rồi tới đâu hay vậy.

— Dạ phải. Con sẻ cứu cha được, không sao đâu.

— Vậy thì con hãy thữ lấy. Cã mình cha đang lạnh tới, hỏa xung, huyết thượng. Cha gượng hết sức, chớ trong mình ngủ tạng lục phũ nó gần hôn mê, tứ chi liệt nhược rã rời rồi, con ôi! Trong năm phút đồng hồ nữa cơn xung dồn tới, thì cha phải bỏ mình.

— Tôn-sư ôi! Cha chã trời đất ôi! Phải làm sao bây giờ?

— Con phải làm như khi trước, mà chuyến nầy chớ khá chờ lâu, vì mình cha đã chết hết phân nữa rồi. Nếu con nhỏ vào miệng cha chuyến nầy 12 giọt mà cha không hồi dương lại được, thì con phải trúc hết ve vào miệng cha. Con nên ôm cha mà để lên giường, vì nó muốn vậc cha ngã đó.

Đăn-tết lật đật ôm Cao-tăng để nằm trên giường.

Cao-tăng nằm êm rồi bèn kêu Đăn-tết mà nói rằng:

— Chúa khiến cho cha gặp con trong lúc khỗ nảo nầy đặng giải lòng sầu muộn, tuy gặp nhau muộn mặc lòng, ta cũng hết lòng cám ơn Chúa luôn. Trước khi vỉnh biệt, cha chúc cho con phước tăng gia phước và cha chúc lành cho con.

(Đăn-tết nghe vậy liền quì gối xuống đất kê đầu vào cạnh giường cho cha chúc lành.)

— Con hãy gia tâm nghe cha dạy việc trong giờ sau rốt đây:

Vẩn cha đoán chắc hầm vàng cũa ông Xì-bá-đa có thiệt. Nay cha nhờ ơn Chúa mà dòm thấy thịch thượng trước mặt, cái chổ chôn hầm vàng ấy ở trong góc xa han đá thứ nhì tại hòn vô chũ. Cha thấy rỏ vàng ròng, ngọc bích dinh du. Nếu con mà trốn khỏi đây được thì con hãy nhớ lại Cao-tăng mà thiên hạ cho rằng điên chẳng phải là điên cuồn gì đâu. Con hãy ráng mà đến hòn vô chũ ấy lấy cũa mà làm giàu, vì bấy lâu con chịu nhiều nổi gian nan.

Cã mình Cao-tăng thinh không rúng động làm cho ổng phải nín lặn một hồi. Đăn-tết liền đứng dậy, thấy cặp mắt tôn-sư đỏ lòm như son vậy, dường như huyết vọng lên đầu rồi.

— Con ôi! Cha từ biệt con!...

— Chưa đâu cha! không hề gì mà!... Cha chả, sao vậy.... làm sao bây giờ... bớ thiên hạ xin lại cứu cha tôi.

— Con phải nín... bằng không thì khốn cho con.

— Dạ, cha nói có lý. Thôi để con ráng cứu cha, coi vọi cha ít mệt hơn lần hổm đó,

— Con chớ lầm, vì cha hết sức rồi, nên con thấy vậy, chớ tâm thần đà tán loạn rồi, con ôi! Vì con hởi còn trẻ, lòng dạ còn nhiều trông cậy, chớ như cha già đã tầng trải việc đời, hiểu thấu cơ trời... Đó nó ùn ùn tới đó con... Thôi rồi... Con mắt cha hết thấy nữa... trí khôn cha lẩn lộ rồi... Đăn-tết, con hởi con.........

Cao-tăng nói đến đó rồi định thân ráng ngồi dậy mà la lớn rằng: Hòn vô chũ... con chớ quên. Nói rồi nhào xuống giường bất tĩnh nhơn sự.

Thiệt bệnh xung giữ quá, nó làm cho Cao-tăng rút tay, bẻ chưn, vậc mình, trợn con mắt, sôi đàm. Vẩn Cao-tăng trước là một đứng thông mình, nay nằm trơ trơ như cây, như đá đó.

Đăn-tết lấy thếp đèn để trên đầu nằm, yến sáng leo lét giọi vào mặt biến sắc, thấy phải phát sợ.

Đăn-tết đứng đợi một hồi đoạn lấy dao cạy răn đổ thuốc. Đợi tới nữa giờ mà không thấy rụt rịt thì Đăn-tết rung sợ mồ hôi đổ dầm mình, sợ thầy có chết rồi chăng, bèn cạy răn đổ thuốc nữa, thì thấy cã mình tôn-sư rúng động, con mắt mở lớn ra, thở dài một cái, rồi trơ trơ lại như cũ mà con mắt hởi còn mở trao tráo.

Đăn-tết ngồi chờ hoài mà không thấy có dấu chi hồi dương bèn lấy tay mà đặt vào ngực thăm coi, thấy lạnh ngắt như đồng. Trời đà hừng sáng Đăn-tết mới biết rỏ thầy mình đã qui thiên, bèn tắt đèn, đem giấu có nơi rồi giở gạch chun về bên khám, vì ngục-tốt gần xuống.

Chuyến nầy ngục-tốt lại vào khám Đăn-tết trước đem cơm rồi mới trở lại khám Cao-tăng đem cơm và quần áo. Đăn-tết có ý xem diện mạo ngục-tốt thì không thấy dấu chi lạ, chắc là nó chưa hay việc chi ráo.

Khi ngục-tốt đóng cữa rồi, Đăn-tết bèn nóng nãy muốn rỏ thời sự, liền chun xuống han ngồi đó, mới vừa lóng tai thì nghe ngục-tốt mở cữa khám Cao-tăng. Chừng ngục-tốt vào trong thấy Cao-tăng đã chết rồi, mới ó ré lên, kêu lính xuống phụ lực, một hồi nghe có tiếng giày đi thì Đăn-tết biết là quan Tổng-trấn xuống có lính theo hầu.

Đăn-tết nghe quan Tổng-trấn dạy lính lấy nước lã đổ vào mặt Cao-tăng, tưởng là ổng chết giấc, chừng không thấy hiệu nghiệm gì, ngài bèn cho đòi lương-y.

Chừng một chập nghe họ đi ra, kẻ thì nói tội nghiệp, người lại giểu cợt rằng: « Cao-tăng đã đi đào hầm vàng rồi!

Người lại nói: Giàu có phú hữu tứ hải vậy mà khi chết không có 1 thước vãi mà chèn hòm.

Kẻ kia lại đáp rằng: Vãi trong Đại-thiên-lao thiếu gì.

Người nọ nói: Vì Cao-tăng là kẽ tu hành, có lẻ quan Tổng-trấn sẻ vị tình mà tống táng xứng đáng chăng.

Người khác lại giểu: Sẽ cho ngài một cái bao.

Lần lần thiên hạ đi lên ráo, mà Đặn-tết sợ e còn ai ở đó giữ xác, nên không dám giở gạch chun lên khám Cao-tăng, cứ ngồi lẳn lặn đó mà chờ. Một hồi nghe thiên hạ xuống đông, ấy là quan Tổng-trấn cùng các quan trong khám đi với Lương-y xuông đặng khán tữ thi. Tuy họ đã vào khám rồi mà không nghe ai nói chi, chắc đây là Lương-y đang xem xác. Đoạn nghe quan thầy luận chứng bệnh, và nói Cao-tăng hồn đã lìa xác rồi. Coi bộ thiên hạ lơ lảng hỏi vài đều lếu láo, Đăn-tết thấy vậy rất đau lòng, có lẻ nào mà không nghỉ chút tình nhơn loại với nhau kìa.

Quan Tổng-trấn nghe quan thầy nói Cao-tăng thiệt đã chết rồi, ngài bèn đáp rằng:

Thiệt là tội nghiệp, Cao-tăng tuy là điên cuồn chớ hiền từ, ít hay hổn ẩu, không hề làm khó cho ai.

Ngục-tốt giữ chìa khóa chứng rằng:

— Dạ, bẩm quan lớn, thiệt vậy, dầu không canh giữ, coi chừng cũng không sao, nếu Cao-tăng còn sống mà ở đây 50 năm, tôi dám bảo lảnh không hề khi nào va kiếm thế thần mà vược ngục đâu.

Quan Tổng-trấn nói với quan thầy rằng:

Tuy biết Cao-tăng đã tắt hơi rồi, mà ta muốn cho đủ lẻ, mai sau không ai trách cứ ta được.

Đăn-tết trông coi ai trả lời làm sao, thì không nghe ai nói gì ráo. Thế thì quan thầy đang xét kĩ lại. Một lát nghe quan thầy trả lời rằng:

— Dạ, quan lớn hảy an tâm, thật va đã chết rồi.

— Tuy vậy mặc lòng, mà ông phải làm cho đủ phép.

Quan thầy liền dạy lính rằng:

— Bây hãy đốt sắt cho đỏ đặng ta thữ.

Đăn-tết nghe vậy đau lòng xót dạ biết bao, rồi lóng tai nghe kẻ qua người lại, một hồi, nghe lính bưng lò lữa và sắt vào khám. Khi Đăn-tết nghe hơi khét thịt bị đốt, thì anh ta tứt mình gần chết giấc, đoạn nghe quan thầy nói rằng:

— Quan lớn thấy rỏ quã là Câo-tăng chết rồi chưa, cái vít tôi đốt nơi gót đó mà không làm cho Cao-tăng dùn lắt, thì chĩnh thiệt ngài đã hết cơn điên, và hồn ngài đà vược khỏi khám trung rồi.

Có một ông quan vỏ theo quan Tổng-trấn hỏi rằng:

— Vậy chớ Cao-tăng đây có phải pháp danh là Pha-ri-a chăng?

— Có người trả lời rằng:

— Phải, Cao-tăng hồi còn sống xưng rằng tên ấy rất cố cựu; vã lại ngài rất thông minh, chuyện chi đều biết đủ, chĩ có việc hầm vàng khó cãi với ngài vô cùng.

Quan Lương-y nói rằng:

— Cái bệnh như vậy, trong sách thuốc đặt là tật Kỳ-quải.

Quan Tỗng-trấn hõi ngục-tốt giữ chìa khóa rằng:

— Ngươi hằng ngày đam cơm nước cho Cao-tăng, va có hổn ẫu chi với ngươi chăng?

— Dạ, không, chẳng khi nào ổng có hỗn ẫu chi, ổng rất vui vẻ, khi trước nhiều lúc ổng thuật truyện cho tôi nghe, khoái quá. Ngày kia vợ tôi đau, tôi hỏi thăm ổng, ổng chỉ cho tôi một món thuốc, vợ tôi uống mạnh liền.

Quan thầy và nói và cười:

— Tôi không dè Cao-tăng là đồng liêu với tôi. Ấy vậy xin quan lớn hãy tống táng ngài một cách cho xứng đáng với, kẻo tội nghiệp!

— Phải phải, để ta dạy trẻ nó kiếm cái bao nào còn mới tinh đặng mà bó ngài, xin ông chớ lo.

Lính hỏi:

— Dạ, bẩm quan lớn, có phải bó ngài bây giờ cho quan lớn xem chăng?

— Phải vậy, mà bây hãy làm cho mau, vì không lẻ ta ở đây trọn ngày.

Đăn-tết ngồi dưới han nghe rỏ, họ đem bố vào khám bó liệm xác Cao-tăng, xong rồi thì nghe quan Tỗng-trấn nói:

— Tối nay động quan.

Quan-vỏ kia hỏi:

— Có rước thầy cả làm lể cầu hồn, đưa xác chăng?

Quan Tỗng-trấn đáp:

— Thầy cả mắc đi khỏi. Chớ phải Cao-tăng đừng gắp vào đường dị lộ vậy, thì có lẻ thầy cả về kịp mà đưa xác.

Quan thầy giểu rằng:

— Hề gì, ngài cũng là thầy cả, có lẻ Chúa sẻ vị, không nở lòng nào đày ngài xuống địa ngục cho sấp quỉ nó khinh khi người tu hành đâu.

Ai nấy nghe nói cười ngất.

Quan Tỗng-trấn nói:

— Thôi, tối phát hành, nghe không?

Lính gác hỏi:

— Dạ, quan lớn định giờ nào?

— Chừng lối 10, hoặc 11 giờ.

— Bẩm quan lớn có phải cắt ai canh xác chăng?

— Canh mà làm gì kìa, cứ việc đóng cữa khám lại như lảo còn sống vậy.

Đó rồi, thiên hạ rùn bỏ ra đi lên ráo, nghe cữa khám đóng lại, tư bề vắng tanh. Đăn-tết lấy đầu đội nổi gạch nền mà dòm vào khám Cao-tăng, xem tứ hướng không thấy ai, bèn chun lên.

Hết chương 20

Chương sauXX

Đọc chương 21 →

Bình luận về truyệnTrang truyện