Năm Thiên Phúc thứ nhất đời Lê Đại Hành, vua Tống Thái Tổ sai tướng quân Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng v.v. đem quân xuống xâm lược phương Nam, đến sông Đại Than. Lê Đại Hành cùng tướng Phạm Cự Lạng đóng hai trại ở sông Đồ Lỗ chống cự, hai bên đắp lũy đối nhau.
Đại Hành mộng thấy hai vị thần nhân trên sông, lạy rằng: "Anh em thần một người tên Trương Hống, một người tên Trương Hát. Trước thờ Triệu Việt Vương, dẫn quân đi dẹp giặc để có thiên hạ. Sau khi mất nước, Lý Nam Đế triệu anh em thần, thần nghĩa không thể sống, uống thuốc độc mà chết. Đế thương công trạng của thần, khen một tiết trung nghĩa, ban cho thần tên là Thần bộ quan tướng, thống lĩnh quỷ binh. Nay quân Tống vào cõi, gây khổ sinh linh nước ta, nên thần đến gặp, nguyện vì Đế đánh giặc này để cứu sinh linh." Đại vương giật mình tỉnh dậy, mừng nói với cận thần: "Thần nhân giúp ta." Liền đốt hương trước thuyền ngự, khấn rằng: "Thần nhân giúp ta nên công nghiệp này, ta sẽ phong tặng, huyết thực muôn đời không cùng." Bèn mổ trâu cúng tế, đốt hương, đốt mũ áo, tiền giấy, ngựa voi giấy.
Đêm ấy, Đại Hành mộng thấy hai vị thần nhân cùng mặc mũ áo được ban đến lạy tạ. Đêm sau, lại thấy một người dẫn bộ quỷ áo trắng từ sông Bình phía nam đến, một người dẫn bộ quỷ áo đỏ từ sông Như Nguyệt xuống phía bắc, cùng hướng trại giặc mà đánh.
Đêm ngày ba mươi tháng Mười, canh ba, trời tối đen, mưa to gió lớn nổi lên. Quân Tống hoảng sợ. Thần nhân lờ mờ đứng giữa không trung, cao giọng ngâm: "Nam quốc sơn hà Nam đế cư, Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư. Như hà Bắc lỗ lai xâm lược, Bạch nhận phiên thành phá trúc dư." (Sông núi nước Nam vua Nam ở, rành rành định phận tại sách trời. Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm, chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.) Quân Tống nghe thấy, tướng sĩ giày xéo nhau mà tan, đánh giết lẫn nhau, đều tháo chạy. Bắt sống không kể xiết. Quân Tống thua to mà về.
Đại vương rút quân về hiến tiệp, phong thưởng công thần, truy phong hai vị thần nhân: một vị là Uy Địch Đại Vương, lập miếu thờ ở ngã ba sông Long Nhãn, để dân sông Bình ở Long Nhãn thờ phụng; một vị là Khước Địch Đại Vương, lập miếu thờ ở ngã ba sông Như Nguyệt, để dân dọc sông Như Nguyệt thờ phụng. Huyết thực không dứt, nay vẫn là phúc thần.