VII
Tra án âm mưu tạo phản.
Khi đờ Huynh-pho ra khỏi phòng tiệc bèn sữa gương mặt lại oai nghi đặng cho xứng đáng theo cuộc trách nhậm án quan. Đi tới cữa gặp Cò-mi-xe đương đợi, bèn nói: Ta đã có đọc cái đơn đầu cáo, vậy chớ túc hạ có cho bắt thằng đó chưa và đám âm mưu tạo phản đó thể nào hãy đọc lại cho ta nghe.
Cò-mí-xe nói: Đám âm mưu tạo phản thì chúng tôi không hiểu việc gì, còn giấy tờ của thằng ấy đã bắt được, thì tôi đã niêm phong để trên bàn giấy quan lớn. Còn tên bị cáo đó thì quan lớn cũng đã biết tên nó rồi: Tánh danh là Ết-mông-Đăn-tết làm phó Cạp-bi-tên dưới tàu Pha-ra-ông, tàu qua lại bên thành A-lếc-xăn-tri và Xi-miệt mà buôn vãi bông; tàu ấy của hãng cha con ông Mo-ren ở Mạt-xây.
— Khi trước tên Đăn-tết nó có tùng quân thủy chăng?
— Dạ, không, nó hởi còn trẻ tuổi.
— Niên canh mấy mươi?
— Dạ chừng mười chín, hai mươi trở lại.
Đờ Huynh-pho đang nói chuyện, ngó ra đường thấy người bước vào, (Ay là ông Mo-ren) mà nói rằng: Dạ bẫm quan lớn, sở tuần cảnh mới bắt lầm người cũa tôi là Ết-mong Đăn-tết làm phó Cáp-bì-tên tàu hãng tôi.
— Ta đã biết rồi, nay ta đến đây tra hỏi nó.
— Quan lớn chưa rỏ, chớ tên Đăn-tết nầy là một người ngay thẳng thiệt thà, rất lành nghề vược biển. Xin quan lớn hãy xuống phước cho nó nhờ, chắc là oan nó lắm.
Vẩn ông Huynh-pho là người thượng lưu phe tôn thất, còn ông Mo-ren là con buôn bị chúng nghi theo phe Na-bô-lê-ông nên ông Huynh-pho ngó ông Mo-ren một cách khi thị mà trả lời một cách nguội lạnh rằng: Túc-hạ cũng biết, tuy thiệt thà ngay thẳng, lành nghề chi mặc dầu, mà ai dám chắc nó không theo phe Na-bô-lê-ông, túc-hạ cũng biết chán mà.
Quan phó Biện-lý và nói và gằn câu sau chóc dường như nói xéo ông Mo-ren, lõ cặp con mắt lưòm lườm với ổng, có ý trách là người sao dám cã gan gánh bàn độc mướn, phận mình sạch sẻ gì chưa mà tới đây năn nỉ cho người khác.
Ông Mo-ren mắc cở hổ ngươi vì xét lại lương tâm mình không được trong sạch về việc quốc sự, vã lại Đăn-tết cũng có nói riêng với mình rằng có ghé lại cù-lao En-bờ đem thơ cho quan Thượng-tướng-quân Bẹt-trăn và có gặp vua Na-bô-lê-ông hỏi thăm, thì trong lòng không yên, nhưng cũng ráng gượng mà bẩm vói rằng: Xin quan lớn hãy lấy sự công bình cùng lấy lòng nhơn từ tra xét phân minh đặng trả Đăn-tết lại cho chúng tôi mau mau!
Cái câu nói rằng « trả Đăn-tết lại cho chúng tôi » làm cho quan phó Biện-lý nghi cho Ết-mong Đăn-tết có vào hội kín nào đó, nên ông Mo-ren mới nói tiếng sấp nhập như vậy, vã lại sở tuần cảnh bắt Đăn-tết tại nhà hàng đang ăn uống đông đão, nên quan phó Biện-lý trả lời rằng: Túc-hạ đừng lo, nếu Đăn-tết vô tội dầu không năn nĩ ta cũng sẻ tha, bằng Đăn tết có tội thì ta sẻ cứ thẳng mà làm.
Nói rồi bỏ đi thẳng vào phòng việc. Dạy lính dẫn tội nhơn vào.
Quan phó Biện-lý hỏi Đăn-tết như vầy: Ngươi là ai, tên họ gì?
— Dạ, bẩm quan lớn, tôi tên là Ết-mông Đăn-tết làm phó Cạp-bì-tên tàu Pha-ra-ông của hảng ông Mo-ren.
— Niên canh bao nhiêu.
— Dạ, mười chín tuổi.
— Khi người ta bắt ngươi đó thì ngươi làm cái gì?
— Dạ, tôi đương ăn lể hỏi cũa tôi.
— Ngươi đương ăn lễ hỏi của ngươi hay sao?
— Dạ phải, mà tôi cũng gần cưới vợ là người tôi thương mến đã ba năm trường.
— Khi trước ngươi có làm tôi Na-bô-lê-ông không?
— Dạ, cũng gần đi đầu quân thủy, kế đó ông Na-bô-lê-ông thời vận chẳng may bị mất ngôi.
— Ngươi lấy làm quấy lắm, sao không cẩn thận trước sau, nhưng ta thấy ngươi ta thương xót, để lấy tờ khống cáo cho mà coi đặng nhìn tuồng chữ.
Đăn-tết đọc rồi, hạng xuất triêm thân mà bẩm rằng: Bẩm quan lớn tôi không biết tuồng chữ nầy, vì là tuồng chữ viết dối, đây cũng là người lanh lợi làm. Tôi lấy làm có phước mà gặp quan lớn, vì đứa làm đơn nầy là một đứa nghịch thù to.
— Ấy vậy ngươi phải tin lấy ta là người vụ tất đến ngươi mà khai, đừng giấu giếm một mãy chi hết.
— Dạ, tôi dám thề với quan lớn tôi khai ngay không giấu giếm chi hết:
Dạ khi tàu tôi ra khỏi thành Nấp rồi thì ông Cạp-bì-tên Lơ-cà-le xáng bịnh đau nặng; phần dưới tàu không có lương-y, phần ỗng cũng gấp chạy đi cù-lao En-bờ, chớ không chịu ghé đâu mà kiếm thuốc uống, nên bịnh một ngày một trầm trệ. Ngày thứ ba coi vọi không xong, ổng bèn kêu tôi vào phòng mà trối như vầy: Ết-mong Đăn-tết, ngươi hãy thề cùng ta mà thi hành những chuyện ta sẻ trối, có nhiều đều rất trọng hệ. Thì tôi nói rằng: Dạ, tôi thề sẻ thi hành những đều ông trối.
Ông Cạp-bì-tên Lơ-cà-le nói: Khi ta chết rồi thì ngươi quyền làm Cạp-bì-tên tàu nầy, nhắm cù-lao En-bờ mà tách dậm, tới nơi thì ghé tại bến Bọt-tô Phê-ra-rô, lên bờ kiếm quan Thượng-tướng-quân mà giao thơ nầy. Có lẻ tại đó người ta cũng giao cho ngươi một phong thơ đem về Ba-ri, ngươi hãy lảnh mạng thi hành mà lấy công.
Tôi nói: Tôi sẻ làm y như lời ông dạy, mà không biết có dể lại gần quan Thượng-tướng-quân chăng?
Ổng bèn đưa cho tôi một chiếc nhẩn mà nói rằng: Hể giơ cái nầy ra thì người ta sẻ tiếp rước.
Kế đó cữ rét tới chận ổng, sáng ngày ỗng chết.
Quan phó Biện-lý hỏi: Đó rồi ngươi làm sao?
— Dạ, thì tôi cứ lời trối thi hành, nhằm cù-lao En-bờ tách dậm. Khi tới nơi rồi tôi cấm không cho ai lên bờ, rồi tôi đi kiếm quan Thượng-tướng-quan mà trao thơ. Khi ấy người ta dục dặc, nên tôi phải đưa chiếc nhẩn ra thì người ta mới cho vào. Quan Thượng-tướng-quân hỏi thăm ông Cạp bì-tên Lơ-ca-le chết cách nào, tôi trả lời xong thì quan Thượng-tuớng-quân giao cho tôi một phong thơ, tôi lảnh mạng thi hành vì có lời ông Lơ-cà-le trối. Khi tàu vô tới Mạt-xây tôi tính công chuyện xong dưới tàu rồi, tôi bèn chạy thăm người nghĩa cũa tôi, đoạn nhờ ông Mo-ren tính giùm nên tôi mới bày lể hỏi, còn một giờ đồng hồ nữa thì làm phép hôn thú, kế đó tôi bị bắt.
Quan phó Biện-lý nói: Các việc ngươi khai nãy giờ ta xét ra cã thảy là thật sự, song tại ngươi không cẩn thận, nhưng vì có lời trối ông Cạp-bì-tên Lơ-cà-le, nên nguơi phụng mạng thi hành. Vậy thì người hãy đưa cái thơ đó đây, rồi ta tha ngươi về, chừng nào có trát đòi sẽ đến hầu.
— Té quan lớn tha tôi sao?
— Ờ, mà ngươi phải đưa cái thơ ra đây.
— Dạ, bẫm quan lớn, lính tuần cảnh đã xét lấy cái thơ và các tờ giấy khác phong lại làm một gói để trước mặt quan lớn đó.
Quan phó Biện-lý lấy nón lấy gậy đứng dậy mà nói rằng: Ngươi hảy đợi đó. À cái thơ ấy ngoài bao đề gởi cho ai?
— Dạ, đề gởi cho ông Noạt-chê đường Cót-hê-rông, Ba-ri.
Quan phó Biện-lý nghe khai như vậy dường như sấm nỗ bên tai, sét sa trước mặt, té ngồi xuống ghế rồi lồm cồm đứng dậy vói lấy phong thơ, mà coi bộ hoảng vía kinh hồn, đoạn nói thầm rằng: Thơ đề gởi cho ông Noạt-chê đường Cót-hê-rông môn bài số 13 (miệng vừa đọc, mặt vừa biến sắc).
Đăn-tết lấy làm lạ mà nói: Dạ phải, mà quan lớn biết ông đó chăng?
— Không, vì tôi trung thần cũa vua, thì không lân cận với đám phãn bạn.
— Bẩm quan lớn, té ra việc nầy là việc âm mưu tạo phãn sao? Dạ, những lời tôi khai đó là sự thiệt, còn tôi không hiểu trong thơ nói cái gì.
— Vậy mà ngươi có đưa cái thơ nầy cho ai coi chưa?
— Dạ, chưa.
— Có ai biết rằng ngươi ghé lại cù-lao En-bờ lành cái thơ nầy giao cho ông Noạt-chê không?
— Dạ, ngoại trừ tôi và người trao thơ thì không ai biết ráo.
— Vậy cũng còn khó gở.
Quan phó Biện-lý đọc thơ chừng nào càng tỏ dấu sợ sệt chừng nấy, làm cho Đăn-tết phập phòng.
Quan phó Biện-lý đọc cái thơ ấy rồi, liền ôm đầu lo buồn sầu nảo. Đoạn ngước mặt lên mà đọc lại một lần nữa rồi hỏi Đăn-tết rằng: Ngươi khai rằng ngươi không hiểu trong thơ nầy nói cái chi phải không?
— Dạ, tôi dám thề với quan lớn, tôi không có biết trong thơ ấy nói cái gì, mà quan lớn coi bộ se-da hay sao, mà mặt mày xanh lét vậy? Bẩm quan lớn để tôi kêu người ta lại đặng săn sóc qnan lớn.
Quan phó Biện-lý lật đật đứng dậy mà nói rằng: Không phải vậy, tại đây có một mình ta ra lịnh chớ chẳng phải ngươi, ngươi hãy lo cho ngươi, đừng lo cho ta.
Nói rồi đoạn ngồi xuống ghế, hạng xuất triêm thân, mà đọc cái thơ ấy lại nữa, rồi nói thầm rằng: Nếu mà nó biết ông Noạt-chê là cha ta, thì còn gì ta! Rồi lâu lâu ỗng ngó mặt Đăn-tết mà xét lẻ, đoạn thình lình nói lớn lên rằng: Chẳng khá nghi nan nữa.
Đăn-tết nghe nói vậy liền bẩm: Dạ bẩm quan lớn, như quan lớn có lòng hồ nghi nữa, quan lớn hỏi thì tôi sẳn lòng khai ngay.
Ông phó Biện-lý nói: Việc nầy có nhiều chuyện quan hệ, ta chẳng lẻ tha ngươi lập tức được, để ta bàn tính với quan tra án, mà ngươi cũng đã rỏ ta đãi ngươi cách nào rồi?
Ta phải giam ngươi ít bữa, nội vụ nầy nặng nề thì có một cái thơ đây. Ngươi hãy chống con mắt mà coi.
Nói rồi đem lại đèn đốt hủy bỏ.
— Thiệt quan lớn có lòng quảng đại vô cùng.
— Như thế thì há ngươi đi còn hồ nghi ta đều chi nữa sao?
— Dạ, quan lớn dạy sao tôi sẻ y theo vậy.
Quan phó Biện-lý lại gần Đăn-tết mà nói nhỏ rằng: Để ta chĩ bảo giùm cho, chớ chẳng lịnh mạng chi mà phải làm theo, (cha chả là mưu sâu kế độc hại người không gươm): Ta phải giam ngưoi tại đây, nội đêm nay, có lẻ có người đến tra ngươi, thì cứ việc khai ngay mà đừng nói tới cái thơ nầy. Có một mình ngươi với ta biết thơ đó mà thôi. Nay ta đã phi tang rồi. Nếu ai có hỏi đến cái thơ ấy thì ngươi cứ việc chối mãi thì sẻ vô sự.
— Dạ, tôi sẻ chối.
— Ngươi phải thề rằng không có cái thơ nào khác.
— Dạ, tôi giơ tay lên thề rằng không có cái thơ nào khác nữa.
Quan phó Biện-lý run chuông kêu quan Cò-mí-xe dạy nhỏ, rồi day lại bão Đăn-tết phải đi theo ông Cò.
Khi thiên hạ đi hết rồi, cữa đóng lại, thì quan phó Biện-lý nhào ngữa trên ghế chết giấc. Một hồi tĩnh dậy mới than rằng: Thời vận ôi là thời vận! May cho ta biết là chừng nào, phải có quan Biện-lý ở nhà thì còn gì tánh mạng ta. Cha ôi là cha! Cha báo con chi quá bội, biết ngày nào cho con cất đầu nổi với thiên hạ, cha ôi!
Nhưng vậy mà họa trung hửu phước, ta sẻ dùng lời nói trong thơ ấy mà lập công với trào đình. »
Nói rồi mặt mày tĩnh táo lại như thường, đội nón lấy gậy đi thẳng lại nhà cha vợ.